Suy Niệm Lời Chúa – Chúa Nhật XV Thường Niên – Sống Nhân Hậu Với Hết Mọi Người

(Đnl 30:10-14; Cl 1:15-20; Lc 10:25-37)

Vấn đề nghèo là đề tài muôn thuở. Chúa Giêsu đã từng nói với Giuđa [và các môn đệ]: “anh [chị] em luôn có người nghèo bên mình, còn Thầy anh [chị] em không luôn có đâu” (Mt 26:11). Những người nghèo hèn, họ làm gì? Thường chúng ta nghe người ta nói: “bần cùng sinh đạo tặc.” Thật vậy, khi rơi vào cảnh túng nghèo, có người đi cướp bóc, có người đi ăn xin, có người cố gắng làm việc. Thánh vịnh gia trong Thánh Vịnh Đáp Ca hôm nay cho biết chúng ta có được niềm vui khi rơi vào cảnh túng nghèo: “Hỡi những ai nghèo hèn, hãy kiếm tìm Thiên Chúa, là tâm hồn phấn khởi vui tươi” (Tv 68:33). Đây là thái độ cần có của người rơi vào cảnh túng nghèo. Còn những người nhìn thấy anh chị em của mình rơi vào cảnh túng thiếu thì sao? Họ sẽ làm gì? Chúng ta sẽ tìm thấy câu trả lời trong các bài đọc lời Chúa hôm nay.

Trong bài đọc 1, Môsê nói cho dân Israel về mệnh lệnh Đức Chúa truyền dạy họ phải tuân giữ. Một điều Môsê khẳng định là mệnh lệnh Đức Chúa truyền “không vượt quá sức lực hay ngoài tầm tay anh em” (Đnl 30:11). Điều này nhắc nhở chúng ta về thái độ chúng ta có trước mệnh lệnh Thiên Chúa truyền. Nhiều người phàn nàn rằng luật Chúa ban khó quá, vượt quá sức mình. Hệ quả là nhiều người xem mệnh lệnh hay luật Chúa như gánh nặng không thể vác. Mệnh lệnh Chúa truyền “không ở trên trời, khiến anh em phải nói: ‘Ai sẽ lên trời lấy xuống cho chúng tôi và nói cho chúng tôi nghe, để chúng tôi đem ra thực hành?’ Mệnh lệnh đó cũng không ở bên kia biển, khiến anh em phải nói: ‘Ai sẽ sang bên kia biển lấy về cho chúng tôi và nói cho chúng tôi nghe, để chúng tôi đem ra thực hành?’ Thật vậy, lời đó ở rất gần anh em, ngay trong miệng, trong lòng anh em, để anh em đem ra thực hành” (Đnl 30:12-14). Những lời này chỉ ra cho chúng ta rằng: những mệnh lệnh Đức Chúa truyền cho Israel được đặt trong “bản chất” [bản tính] con người của họ. Nói cách cụ thể, khi sống theo bản chất con người của mình [được tạo dựng theo hình ảnh và giống Thiên Chúa] thì con người đang thực hành mệnh lệnh Đức Chúa truyền. Áp dụng vào trong việc quan tâm chăm sóc những người túng thiếu, chúng ta có thể khẳng định rằng mệnh lệnh quan tâm đến người nghèo, những người cần chúng ta giúp đỡ được ghi khắc trong con tim [đầy tình người] của chúng ta. Như vậy, khi thấy một anh chị em lâm cảnh túng nghèo cần đến sự giúp đỡ mà chúng ta quay mặt bước đi, hoặc tìm những lý do hợp lý để không giúp đỡ họ, chúng ta chưa thật sự sống đúng với “bản tính người” được tạo dựng theo hình ảnh và giống Chúa của mình.

Tư tưởng sống theo bản tính người được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa được Thánh Phaolô trình bày cho tín hữu Côlôxê trong bài đọc 2 hôm nay. Thánh Phaolô nói về Chúa Giêsu là “hình ảnh Thiên Chúa vô hình.” Ngài là trưởng tử mà trong Ngài “muôn vật được tạo thành trên trời cùng dưới đất, hữu hình với vô hình. Dẫu là hàng dũng lực thần thiêng hay là bậc quyền năng thượng giới, tất cả đều do Thiên Chúa tạo dựng nhờ Người và cho Người” (Cl 1:16). Chi tiết này khẳng định rằng sống đúng bản chất “con người” là sống theo mẫu gương Chúa Giêsu, Đấng “cũng là đầu của thân thể, nghĩa là đầu của Hội Thánh; Người là khởi nguyên, là trưởng tử trong số những người từ cõi chết sống lại, để trong mọi sự Người đứng hàng đầu” (Cl 1:18). Sống theo mẫu gương Chúa Giêsu là trở nên người mang lại sự hoà giải, mang lại sự “bình an cho mọi loài dưới đất và muôn vật trên trời” (Cl 1:19-20).

Bài Tin Mừng hôm nay chỉ được tìm thấy trong Tin Mừng Thánh Luca và được gọi là Dụ Ngôn Người Samaria Nhân Hậu. Nội dung của bài Tin Mừng xoay quanh hai câu hỏi mà người thông luật hỏi Chúa Giêsu: “Thưa Thầy, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp?” (Lc 10:25) và “Nhưng ai là người thân cận của tôi?” (Lc 10:29). Đây là hai câu hỏi mà mỗi người chúng ta tìm cách trả lời hầu tìm cho mình một cuộc sống ý nghĩa.

Câu hỏi thứ nhất liên quan đến sự sống đời đời và những việc chúng ta phải làm trong ngày. Cuộc đối thoại xảy ra như sau:

Người thông luật: “Thưa Thầy, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp?”

Chúa Giêsu: “Trong Luật đã viết gì? Ông đọc thế nào?”

Người thông luật: “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực, và hết trí khôn ngươi, và yêu mến người thân cận như chính mình.”

Chúa Giêsu: “Ông trả lời đúng lắm. Cứ làm như vậy là sẽ được sống.”

Câu hỏi thứ hai xoay quanh tương quan của chúng ta với người khác. Chúng ta thấy ở đây điều đáng suy gẫm là chúng ta thường không có vấn đề gì lắm trong việc yêu Chúa, nhưng chúng ta thường thấy không dễ dàng để yêu người khác, ngay cả những người rất gần gũi, những người thân trong gia đình. Để trả lời câu hỏi về người thân cận, Chúa Giêsu kể cho người thông luật một dụ ngôn [câu chuyện]. Trong câu chuyện, chúng ta thấy có ba nhân vật và một người bị nạn. Người bị nạn được xem là yếu tố ngoại cảnh. Điều Chúa Giêsu muốn nói với chúng ta là thái độ của ba người khi gặp người bị nạn [yếu tố ngoại cảnh]. Chúng ta xem mình thuộc loại người nào trong ba loại người Chúa Giêsu nêu ra.

Trước khi phân tích thái độ của ba người gặp kẻ bị nạn, điểm đầu tiên đáng để chúng ta suy gẫm là “hành trình của một người kia.” Chúng ta thấy ở đây người bị nạn chỉ được đề cập đến như là “người kia,” không có tên. Chi tiết này ám chỉ đến việc người gặp nạn có thể bất kỳ người nào chúng ta gặp trong ngày sống của chúng ta. Họ có thể là người thân hoặc những kẻ xa lạ. Chi tiết kế đến là hình ảnh “hành trình.” Trong Tin Mừng Thánh Luca, “hành trình” rất quan trọng. Một cách cụ thể, trong Tin Mừng Thánh Luca, Chúa Giêsu thực hiện “hành trình” của Ngài từ bên ngoài [Galilê] lên Giêrusalem. Các môn đệ cũng đi cùng hành trình này với Chúa Giêsu. Chỉ sau khi Chúa Giêsu lên trời, các Tông Đồ thực hiện hành trình từ Giêrusalem đến tận cùng trái đất. Như vậy, theo Thánh Luca, Giêrusalem là trung tâm, vì nơi đó có Đền Thờ là nhà “Cha của Chúa Giêsu” (x. Lc 2:49). Cuộc đời trần thế của Chúa Giêsu là một hành trình lên Giêrusalem, hay nói đúng hơn đi về nhà Cha. Chỉ có hành trình như thế mới mang lại bình an và ơn cứu độ. Người bị nạn trong bài Tin Mừng hôm nay “đi ngược” với hành trình mà Chúa Giêsu đang đi [Chúa Giêsu đi vào Giêrusalem – “người kia” đi ra khỏi Giêrusalem]: “Một người kia từ Giêrusalem xuống Giêrikhô, dọc đường bị rơi vào tay kẻ cướp. Chúng lột sạch người ấy, đánh nhừ tử, rồi bỏ đi, để mặc người ấy nửa sống nửa chết.” Điều này khuyến cáo chúng ta rằng: Những ai đi ngược với hành trình mà Chúa Giêsu đi sẽ kết thúc trong nước mắt và đau thương. Hãy lắng đọng giây phút để xem mình đang đi cùng hành trình về nhà Cha với Chúa Giêsu hay chúng ta đang đi ngược với hành trình đó để rồi càng ngày càng xa Chúa.

Chi tiết thứ hai để chúng ta suy gẫm trong bài Tin Mừng là thái độ của ba người gặp người bị nạn. Chúa Giêsu chọn ba người đại diện cho ba tầng lớp phổ biến trong thời gian đó. Như chúng ta đã trình bày ở trên, người bị nạn không phải là nhân vật chính. Người bị nạn được xem như một yếu tố ngoại cảnh, còn phản ứng của ba người gặp yếu tố ngoại cảnh khẳng định loại người họ là. Chúng ta cùng nhau phân tích phản ứng của họ.

Người thứ nhất là thầy tư tế. Những chi tiết kế tiếp là (1) ông cũng đi xuống đường đó [đi ngược với hành trình Chúa Giêsu đi], trông thấy nạn nhân, tránh qua bên kia mà đi (x. Lc 10:31). Những chi tiết này cho thấy thầy tư tế quá bận tâm với “danh dự” và “vai trò” của mình. Thầy tư tế sợ đụng vào người “đẫm máu bên vệ đường” sẽ làm cho công ta bị ô uế và không thể thực hành vai trò tư tế của mình. Nói cách khác, ông đặt vai trò hay công việc lên trên nhân phẩm và sự sống của anh chị em mình. Thái độ này cũng là thái độ của nhiều người trong chúng ta. Nhiều lần trong ngày sống, chúng ta vì công việc mà trở nên vô tình, vô cảm với anh chị em mình. Chúa Giêsu muốn chúng ta phải đặt lại giá trị trong cuộc sống: sự sống và nhân phẩm của anh chị em quan trọng hơn bất kỳ công việc và danh dự nào.

Người thứ hai là thầy Lêvi. Chúng ta không biết ông ta đi về hướng nào. Chúng ta chỉ biết ông ta “đi tới chỗ ấy” [cũng có thể ông đang trên đường lên Giêrusalem chăng?], trông thấy nạn nhân, cũng tránh qua bên kia mà đi (x. Lc 10:32). Cũng giống như thầy tư tế, thầy Lêvi cũng không muốn để cho mình bị ngăn trở và bị trở nên ô uế khi đụng vào xác chết. Ông đặt sự an toàn của chính mình và công việc lên trên nỗi thống khổ của anh chị em mình. Đây là hình ảnh của nhiều người trong chúng ta, những người tìm kiếm tư lợi cho chính mình dù thấy anh chị em mình đang phải đau khổ vật lộn với cuộc sống.

Người thứ ba là một người Samaria. Cũng như thầy Lêvi, chúng ta không biết ông đi về hướng nào. Ông “đi tới chỗ nạn nhân,” trông thấy, động lòng thương (x. Lc 10:33). Điều khác biệt giữa ông và thầy tư tế cũng như thầy Lêvi là “ông ta lại gần, lấy dầu lấy rượu xức vết thương cho người ấy và băng bó lại, rồi đặt người ấy trên lưng lừa của mình, đưa về quán trọ mà săn sóc” (Lc 10:33). Không chỉ “chăm sóc nhu cầu gần” của người bị nạn, ông ta còn chăm sóc cả “nhu cầu xa”: “Hôm sau, ông lấy ra hai quan tiền, trao cho chủ quán và nói: ‘Nhờ bác săn sóc cho người này, có tốn kém thêm bao nhiêu, thì khi trở về, chính tôi sẽ hoàn lại bác’” (Lc 10:35). Cử chỉ của người Samaria dạy chúng ta rằng lòng thương xót không chỉ dừng lại ở nhu cầu khẩn thiết của người thân cận, nhưng còn lo cho nhu cầu của người đó trong tương lai. Nói cách khác, tình yêu không hệ tại ở một vài hành động tốt, nhưng hệ tại ở động lực thúc đẩy chúng ta thực hiện những hành động tốt cho người khác, hay nói đúng hơn hệ tại ở thái độ sống đầy yêu thương mà chúng ta dành cho người khác.

Nét đẹp trong cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu và thầy thông luật nằm ở chỗ “hoán đổi vị trí.” Nói cách cụ thể, thay vì là người “chất vấn” Chúa Giêsu, thầy thông luật cuối cùng bị Chúa Giêsu “chất vấn”: “Vậy theo ông nghĩ, trong ba người đó, ai đã tỏ ra là người thân cận với người đã bị rơi vào tay kẻ cướp?” (Lc 10:36). Chúa Giêsu muốn chính thầy thông luật trả lời cho câu hỏi của mình sau khi Ngài giảng dạy qua dụ ngôn lấy từ cuộc sống hằng ngày. Chi tiết này nhắc nhở chúng ta rằng: trong cuộc sống chúng ta cũng gặp nhiều điều để chất vấn Chúa. Nhưng Chúa cũng muốn chúng ta tự tìm câu trả lời cho chính mình sau khi Ngài đã sử dụng người khác hoặc những sự kiện xảy ra trong ngày sống để giúp chúng ta tìm ra câu trả lời. Người thông luật đã tìm được câu trả lời của mình sau khi nghe Chúa Giêsu giải thích: “Chính là kẻ đã thực thi lòng thương xót đối với người ấy” (Lc 10:37). Còn chúng ta thì sao, liệu chúng ta có tìm ra câu trả lời cho vấn nạn về người thân cận của chúng ta không?

Điều làm chúng ta ngạc nhiên là Chúa Giêsu kết thúc hai lần trả lời với cùng một điều: “Ông hãy đi, và cũng hãy làm như vậy” (Lc 10:28,37). Qua những lời này, Chúa Giêsu nhắc nhở chúng ta về tầm quan trọng của việc thực hành những gì chúng ta nghe, biết về lời dạy của Ngài. Nhiều người trong chúng ta nghe nhiều và cũng tự hào biết nhiều về Chúa, nhưng đời sống lại không đi đôi với nhũng gì chúng ta nghe và biết. Hãy bắt đầu từ ngày hôm nay! Hãy sống những gì chúng ta nghe và biết về Thiên Chúa.

Lm. Antôn Nguyễn Ngọc Dũng, SDB