Suy Niệm Lời Chúa – Thứ Tư sau Chúa Nhật XIX Thường Niên – Sống Trọn Vẹn Với Con Tim Tha Thứ

(Đnl 34:1-12; Mt 18:15-20)

Trong lịch sử dân Israel, không có vị ngôn sứ nào như Môsê: “Trong Israel, không còn xuất hiện một ngôn sứ nào như ông Môsê, người mà Đức Chúa biết rõ, mặt giáp mặt” (Đnl 34:10). Sự vĩ đại của Môsê hệ tại việc ông được Đức Chúa biết rõ và nói chuyện diện đối diện. Dù vĩ đại, nhưng Môsê không được đặt chân vào đất mà Đức Chúa đã thề hứa với Ápraham, Ixaác và Giacóp. Điều an ủi ông là được Đức Chúa “cho ngươi thấy tận mắt” đất hứa. Chúng ta không chỉ được Chúa biết rõ, mà còn được đón nhận Ngài vào trong tâm hồn mỗi khi chúng ta tham dự thánh lễ. Chúng ta cũng tận mắt nhìn thấy sự hiện diện thật của Chúa trong Bí Tích Thánh Thể. Những điều này phải làm cho cuộc sống chúng ta trở nên vĩ đại. Sự vĩ đại của con người không được định nghĩa bằng tương quan với thế gian, nhưng bằng tương quan với Thiên Chúa.

Ai trong chúng ta cũng đã một lần phạm lỗi với người khác hoặc bị người khác phạm lỗi. Có hai khả thể xảy ra nếu chúng ta phạm lỗi với người khác: Một là chúng ta khiêm nhường nhận lỗi và đi xin lỗi, hai là chúng ta để cho sự kiêu ngạo [bất cần] thống trị để rồi chúng ta không thấy cần phải đi xin lỗi. Bài Tin Mừng hôm nay nói về “tiến trình xử án.” Thánh Mátthêu dựa trên nền tảng của lời khuyên bảo về việc sửa lỗi huynh đệ trong nguồn Q (x. Lc 17:3) để phát triển thành một “học thuyết” về cách phân xử trong câu 15-17. Chúng ta thấy có ba giai đoạn trong tiến trình kỷ luật một người anh em ngoan cố trong cộng đoàn. Còn trong câu 18-20, Thánh Mátthêu cung cấp lý do thiêng liêng cho những quyết định được đưa ra trong tiến trình sửa lỗi này, đó là đi từ lề luật đến thần học.

Như chúng ta đã trình bày, phần sửa lỗi gồm ba giai đoạn: (1) Giai đoạn 1 bắt đầu với việc nhận ra người anh em phạm lỗi thì “đi sửa lỗi nó, một mình anh với nó mà thôi. Nếu nó chịu nghe anh, thì anh đã chinh phục được người anh em” (Mt 18:15). Trong giai đoạn này, sự sửa lỗi mang tính cách cá nhân, đi một mình hầu “giữ thể diện” cho người anh chị em. Trong giai đoạn này, hai điều cần làm là lắng nghe để đối chiếu sự thật và “khiển trách.” Tuy nhiên, chúng ta làm những điều này chỉ với mục đích là “chinh phục” người anh em. Chữ “chinh phục” ở đây là từ mang tính chuyên môn trong thần học của các thầy Rabbi. Nó ám chỉ đến nỗ lực mang người khác về trong việc truyền giáo (x. Lv 19:17-18). (2) Giai đoạn 2 xảy ra khi chúng ta thất bại trong giai đoạn 1. Trong giai đoạn 2, chúng ta cần thêm “một hay hai người nữa, để mọi công việc được giải quyết, căn cứ vào lời hai hoặc ba chứng nhân” (Mt 18:16). Đây là câu trích từ Đnl 19:15. Mục đích của giai đoạn này cũng nhằm thuyết phục người anh chị em của mình dựa trên lời chứng của người khác, chứ không chỉ dựa trên lời chứng mang tính chất “chủ quan” của riêng mình [điều có thể xảy ra trong giai đoạn 1]. Như vậy, trong giai đoạn 2, cả hai khía cạnh chủ quan và khách quan được thiết lập. Nhưng nếu người anh em không chịu lắng nghe, “thì hãy đi thưa Hội Thánh. Nếu Hội Thánh mà nó cũng chẳng nghe, thì hãy kể nó như một người ngoại hay một người thu thuế” (Mt 18:17). Từ “Hội Thánh” ở đây ám chỉ đến cộng đoàn địa phương. Khi người sai phạm không nghe cộng đoàn, thì chính họ tự cắt mình ra khỏi cộng đoàn và như thế cộng đoàn xem họ như “một người ngoại hay một người thu thuế. Đây là lối nói khác của “vạ tuyệt thông,” tức là bị loại trừ ra khỏi cộng đoàn. Điều này chỉ xảy ra trong những trường hợp rất nghiêm trọng, khi lợi ích của cộng đoàn bị đe doạ. Dù bị loại ra như một người thu thuế hay dân ngoại, người anh em vẫn được đón nhận trở về với điều kiện tỏ lòng sám hối. Trong Tin Mừng, chúng ta thấy Chúa Giêsu cũng đón nhận những người thu thuế, nhưng chỉ khi họ tỏ cho thấy họ tin và sám hối (x. Mt 9:9-13).

Trong phần cung cấp lý do thiêng liêng cho việc sửa lỗi huynh đệ, Chúa Giêsu sử dụng lời Ngài nói với Phêrô khi ông tuyên xưng đức tin ở Ceasarea Philippi để nói với các môn đệ (x. Mt 1:13-20): “Thầy bảo thật anh em: dưới đất, anh em ràng buộc những điều gì, trên trời cũng sẽ ràng buộc như vậy; dưới đất, anh em tháo cởi những điều gì, trên trời cũng sẽ tháo cởi như vậy” (Mt 18:18). Trong câu này, các môn đệ khác [những người lãnh đạo cộng đoàn] cũng được ban cho quyền ràng buộc và tháo cởi, nhưng không được ban cho quyền gắn liền với “chìa khoá Nước Trời.” Tuy nhiên, chúng ta cần lưu ý thể thức văn phạm được sử dụng trong câu này, đó là thể “bị động mang tính thần học” – “sẽ bị ràng buộc.” Chi tiết này cho thấy chính Thiên Chúa là Đấng chủ động trong việc ràng buộc [trên trời]. Điều này nhắc nhở chúng ta về việc chúng ta phải hành động nhân danh Chúa, nhất là trong việc sửa lỗi huynh đệ và tha thứ cho nhau. Nói cách cụ thể hơn, khi sửa lỗi huynh đệ và tha thứ, chúng ta phải có con tim bao dung như Chúa để có thể yêu và thuyết phục anh chị em sai lỗi.

Bài Tin Mừng kết thúc với lời mời gọi hãy trở nên “một lòng một trí” trong đời sống cộng đoàn, nhất là trong đời sống cầu nguyện. Khi chúng ta “một lòng một trí” trong đời sống cầu nguyện, mọi sự khác sẽ được tốt đẹp vì đời sống cầu nguyện giúp chúng ta cảm nghiệm được sự hiện diện của Chúa Giêsu ở giữa chúng ta: “Vì ở đâu có hai ba người họp lại nhân danh Thầy, thì có Thầy ở đấy, giữa họ” (Mt 18:20). Trong câu này, Chúa Giêsu ám chỉ đến việc Ngài là trung tâm hiệp nhất của cộng đoàn. Các thành viên trong cộng đoàn sẽ loại trừ nhau khi mọi người không “một lòng một trí” trong Đức Kitô.

Lm. Antôn Nguyễn Ngọc Dũng, SDB