
(Is 9:1-6; Tt 2:11-14; Lc 2:1-14)
Mầu nhiệm đêm nay là mầu nhiệm ánh sáng của Thiên Chúa: Ánh sáng mà đưa dân Chúa ra khỏi bóng tối tử thần. Trong bài đọc 1, Ngôn Sứ Isaia nói về ánh sáng huy hoàng mà Thiên Chúa ban cho dân Ngài trong ngày ‘một trẻ thơ được sinh ra.” Trong ngày đó, dân Chúa sẽ được hưởng những điều sau: (1) không còn bước đi trong bóng đêm tội lỗi; (2) được ban cho chan chứa niềm vui; (3) được giải thoát khỏi ách nô lệ [thói hư tật xấu]; (4) được hưởng sự bình an. Chúng ta đã được hưởng bốn điều này chưa? Nếu chưa, chúng ta hãy xin Thiên Chúa ban cho chúng ta để chúng ta có được sự bình an thật để đón mừng con Chúa: “Người là Cố Vấn kỳ diệu, Thần Linh dũng mãnh, người Cha muôn thuở, Thủ Lãnh hoà bình. Người sẽ mở rộng quyền bính, và lập nền hoà bình vô tận cho ngai vàng và vương quốc của vua Đa-vít. Người sẽ làm cho vương quốc được kiên cố vững bền trên nền tảng chính trực công minh, từ nay cho đến mãi muôn đời. Vì yêu thương nồng nhiệt, Đức Chúa các đạo binh sẽ thực hiện điều đó” (Is 9:5-6). Đêm hôm nay là đêm Thiên Chúa hoàn thành lời hứa của Ngài với con cháu Adam. Ngài là Thiên Chúa trung thành. Chúng ta cũng được mời gọi để sống trung thành với Thiên Chúa và với nhau.
Về phần mình, Thánh Phaolô nhắc nhở Titô về ân sủng mà Thiên Chúa đã ban cho con người. Theo thánh nhân, “ân sủng đó dạy chúng ta phải từ bỏ lối sống vô luân và những đam mê trần tục, mà sống chừng mực, công chính và đạo đức ở thế gian này” (Tt 2:12). Những người sống trong ân sủng là những người sống theo sứ điệp sám hối, đó là thay đổi lối sống cũ của mình để hoàn toàn sống cho Thiên Chúa. Họ là những người sống trong niềm hy vọng của ngày hồng phúc, “ngày Đức Kitô Giêsu là Thiên Chúa vĩ đại và là Đấng cứu độ chúng ta, xuất hiện vinh quang” (Tt 2:13). Bên cạnh đó, Thánh Phaolô cũng chỉ ra mầu nhiệm hôm nay là mầu nhiệm tự hiến của Chúa Giêsu khi sinh ra trong xác phàm con người: “Người đã tự hiến để cứu chuộc chúng ta cho thoát khỏi mọi điều bất chính, và để thanh luyện chúng ta, khiến chúng ta thành Dân riêng của Người, một dân hăng say làm việc thiện” (Tt 2:14). Đêm nay, chúng ta được Chúa Giêsu biến thành dân riêng của Ngài, chúng ta được mời gọi đến một đời sống hăng say làm việc thiện.
Khung cảnh ra đời của Chúa Giêsu được thánh Luca đặt trong một khung cảnh lịch sử cụ thể của nhân loại, đó là “thời ấy, hoàng đế Augúttô ra chiếu chỉ, truyền kiểm tra dân số trong khắp cả thiên hạ. Đây là cuộc kiểm tra đầu tiên, được thực hiện thời ông Quiriniô làm tổng trấn xứ Xyri” (Lc 2:1-2). Những lời này cho thấy lịch sử con người trở thành lịch sử cứu độ khi Chúa Giêsu bước vào trong thời gian. Chi tiết này nhắc nhở lịch sử cuộc đời của mình. Khi chúng ta để Chúa Giêsu bước vào cuộc đời của mình, thì lịch sử đời mình sẽ trở thành những trang sử đầy yêu thương của Thiên Chúa. Liệu chúng ta có để Chúa Giêsu sinh ra trong cuộc đời của chúng ta ngay giây phút này không?
Chi tiết thứ hai chúng ta quan tâm là bối cảnh gia đình mà trong đó Chúa Giêsu sẽ được sinh ra: “Ai nấy đều về thành của mình mà khai tên tuổi. Bởi thế, ông Giuse cũng từ thành Nadarét, miền Galilê, lên thành vua Đavít gọi là Bêlem, miền Giuđê, vì ông thuộc gia đình và dòng tộc vua Đavít. Ông lên đó khai tên cùng với bà Maria là người đã thành hôn với ông, lúc ấy bà đang có thai. Khi hai người đang ở đó, thì bà Maria đã tới ngày mãn nguyệt khai hoa. Bà sinh con trai đầu lòng, lấy tã bọc con, rồi đặt nằm trong máng cỏ, vì hai ông bà không tìm được chỗ trong nhà trọ” (Lc 2:3-7). Chi tiết này tiếp tục tư tưởng mà chúng ta vừa trình bày ở trên, đó là việc Chúa Giêsu sinh ra trong lịch sử con người. Tuy nhiên, Ngài không sinh ra trong một ‘nơi chung chung,’ nhưng trong một gia đình, một dòng tộc. Hình ảnh của hai người trực tiếp liên quan đến sự ra đời được nêu trong những lời trên là Thánh Giuse và Mẹ Maria. Chúng ta thấy, điều Thánh Giuse mang lại cho Chúa Giêsu là ‘dòng tộc Đavít,’ còn Mẹ Maria mang lại cho Chúa Giêsu là ‘thân xác’ để hiện diện trong ‘lịch sử’ nhân loại. Còn chúng ta, chúng ta sẽ có điều gì để dâng lên cho Chúa Giêsu hôm nay không?
Những người đầu tiên được đón nhận tin vui của giáng sinh là “những người chăn chiên sống ngoài đồng và thức đêm canh giữ đàn vật” (Lc 2:8): “Trong vùng ấy, có những người chăn chiên sống ngoài đồng và thức đêm canh giữ đàn vật. Bỗng sứ thần Chúa đứng bên họ, và vinh quang của Chúa chiếu toả chung quanh, khiến họ sợ hãi kinh hoàng. Nhưng sứ thần bảo họ: ‘Anh em đừng sợ. Này tôi loan báo cho anh em một tin mừng trọng đại, cũng sẽ là niềm vui cho toàn dân: Hôm nay, một Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em trong thành vua Đavít, Người là Đấng Kitô, là Đức Chúa’” (Lc 2:8-11). Tại sao những người chăn chiên là những người đầu tiên được đón nhận tin vui Giáng Sinh? Bản văn cho chúng ta thấy rằng họ là những người “thức đêm” hay đúng hơn là có thái độ “canh thức đợi chủ về.” Tuy nhiên, tin vui mà những người chăn chiên nhận được không chỉ dành riêng cho họ mà dành cho ‘toàn dân.’ Chi tiết này mời gọi chúng ta chia sẻ niềm vui có Chúa cho mọi người. Những người có Chúa trong cuộc đời của mình là những người không tìm kiếm niềm vui cho riêng mình, nhưng tìm kiếm và loan báo niềm vui cho người khác. Họ là những người biến cuộc đời của mình thành Tin Mừng.
Dấu hiệu để nhận ra Đấng Cứu Thế thật đơn sơ: “Anh em cứ dấu này mà nhận ra Người: anh em sẽ gặp thấy một trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ” (Lc 2:12). Chi tiết này nhắc chúng ta về sự hiện diện đầy khiêm nhường của Thiên Chúa [Chúa Giêsu] trong thế giới và trong cuộc đời chúng ta. Khác với cái nhìn của người đời, Thiên Chúa không đến từ những nơi cao sang quyền quý. Ngài được tìm thấy ở những nơi bần cùng, nghèo hèn và trong những người không ‘có nơi nương thân.’ Ngài hiện diện cách kín ẩn trong một ‘trẻ sơ sinh,” thật yếu đuối, thật đơn sơ, thật vô tội. Nhiều lần trong cuộc sống, chúng ta cũng đi tìm Chúa trong những nơi cao sang quyền quý, trong những con người thông minh và quyền lực. Nhưng Chúa không hiện diện ở đó. Chúng ta chỉ tìm ra Chúa khi chúng ta sống tinh thần của trẻ thơ, nhìn mọi sự với ánh mắt kinh ngạc và đầy yêu thương, như ‘trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ.”
Sự ra đời của Chúa Giêsu mang lại hai hệ quả: Vinh danh Thiên Chúa và bình an cho con người: “Bỗng có đạo binh thiên quốc đông đảo hợp với sứ thần cất tiếng ca tụng Thiên Chúa rằng: “Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho loài người Chúa thương’” (Lc 2:13-14). Những lời này, một cách nào đó trình bày cho chúng ta biết sứ vụ của Chúa Giêsu trong thế gian này, đó là làm vinh danh Thiên Chúa và cứu rỗi con người. Đây cũng chính là sứ điệp của mùa Giáng Sinh: Mỗi người chúng ta hôm nay cũng được sinh ra với Chúa Giêsu, chúng ta phải biến cuộc đời của mình thành lời ca tôn vinh Thiên Chúa và nguồn bình an cho những người chúng ta sẽ được sai đến để phục vụ.
Lm. Antôn Nguyễn Ngọc Dũng, SDB
