
(Is 8:23b-9:3; 1Cor 1: 10-13.17; Mt 4:12-23)
Bài đọc 1 hôm nay ngôn sứ Isaia trình bày cho chúng ta hai vùng đất mà Thiên Chúa đã hạ nhục và sau đó làm cho chúng được vẻ vang, đó là Dơvulun và Náptali. Hai vùng đất này được nhắc đến trong Tin Mừng hôm nay. Lời của Ngôn sứ Isaia được Thánh Matthêu trích lại để cho thấy Thiên Chúa đã làm vẻ vang hai vùng đất này như thế nào. Theo Ngôn sứ, sự vẻ vang của hai vùng đất này hệ tại việc dân chúng đã được nhìn thấy ánh sáng huy hoàng từ Thiên Chúa. Họ là những người đang bước đi trong bóng tối và nay được ánh sáng chiếu soi. Chính Thiên Chúa là Đấng ban cho họ chan chứa niềm hoan hỷ, vui mừng (Is 8:2). Niềm vui họ được tận hưởng được ví tựa như niềm vui của những người “mừng vui trong mùa gặt” và “hỷ hoan khi chia nhau chiến lợi phẩm” (Is 8:2). Họ vui mừng như những người đã được giải thoát khỏi ách nô lệ của ngoại bang và nhất là nô lệ của tội lỗi. Những lời này mang lại cho chúng ta niềm an ủi và hy vọng. Nhiều lần, chúng ta trở thành những người nô lệ của tội lỗi, cũng bước đi trong bóng đêm của sự dữ. Những ánh sáng tình yêu và ân sủng của Chúa luôn chiếu toả trên chúng ta. Đó chính là niềm vui của chúng ta, niềm vui được trở về với Chúa, niềm vui của sám hối và tin vào tin mừng cứu độ được Chúa Giêsu mời gọi hôm nay. Liệu chúng ta có để cho ánh sáng tình yêu của Chúa chiếu toả vào trong bóng đêm của con tim yếu đuối và tội lỗi của chúng ta không?
Về phần mình, Thánh Phaolô trong bài đọc 2 ám chỉ một vấn đề mà Cộng Đoàn Côrintô đang phải đối mặt, đó là vấn đề chia rẽ. Đối diện với điều này, thánh nhân nhắc nhở các tín hữu Côrintô phải biết sống hiệp nhất với nhau. Ngài khuyên nhủ: “Thưa anh em, nhân danh Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, tôi khuyên tất cả anh em hãy nhất trí với nhau trong lời ăn tiếng nói, và đừng để có sự chia rẽ giữa anh em, nhưng hãy sống hoà thuận, một lòng một ý với nhau” (1 Cor 1:10). Một điểm quan trọng trong những lời này, đó là thánh nhân “nhân danh Đức Giêsu Kitô” để kêu gọi mọi người sống hiệp nhất. Điều này cho thấy, sự hiệp nhất trong lời ăn tiếng nói không chỉ là một nổ lực của con người, mà là ân sủng đến từ việc mọi người hướng trọn vẹn tâm trí và cõi lòng của mình về Đức Giêsu Kitô. Nói cách khác, chỉ trong Đức Giêsu Kitô mà tất cả các tín hữu tìm thấy sự hiệp nhất. Bên cạnh đó, thánh nhân còn nhắc nhở họ phải biết ai là người đã chết vì cứu độ họ. Người chết để cứu độ họ chính là Đức Kitô, chứ không phải là những người được sai đi rao giảng sứ điệp cứu độ của Đấng đã chết trên thập giá. Chi tiết này nhắc nhở chúng ta phải biết tập trung vào Đức Kitô, Đấng đã chết vì chúng ta, chứ không phải vào những lời hay tiếng đẹp của người được Chúa sai đi để rao giảng về tin mừng cứu độ.
Tin Mừng hôm nay trình bày cho chúng ta khởi đầu sứ vụ của Chúa Giêsu ở Galilê. Chi tiết đầu tiên làm chúng ta lưu ý là việc Chúa Giêsu lánh qua miền Galilê sau khi Gioan Tẩy Giả bị tống giam vào ngục và bị giết (Mt 4:1). Hành động này của Chúa Giêsu được hiểu như là một quyết định can đảm hầu đảm nhận sứ vụ mình theo thánh ý Chúa Cha đồng thời cũng mang lại sự an toàn cho Ngài. Những địa danh Chúa Giêsu di chuyển trong khởi đầu sứ vụ cũng nói lên ý định của Thánh Mátthêu khi viết Tin Mừng của mình: “Rồi Người bỏ Nadarét, đến ở Caphácnaum, một thành ven biển hồ Galilê, thuộc địa hạt Dơvulun và Náptali, để ứng nghiệm lời ngôn sứ Isaia đã nói: Này đất Dơvulun, và đất Náptali, hỡi con đường ven biển, và vùng tả ngạn sông Giođan, hỡi Galilê, miền đất của dân ngoại! Đoàn dân đang ngồi trong cảnh tối tăm đã thấy một ánh sáng huy hoàng, những kẻ đang ngồi trong vùng bóng tối của tử thần nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi” (Mt 4:13-16). Trong những địa danh được nêu ra, chúng ta thấy Thánh Mátthêu đề cập đến Nadarét. Đây là một nơi an toàn vì nó gần trung tâm quản trị của Sepphoris. Từ đây, một người có thể trốn sang một nơi khác rất dễ dàng nếu có bị truy bắt. Thánh Mátthêu sử dụng những tên chi tộc Israel cũ (Caphácnaum thuộc Náptali) dù những tên này đã không còn sử dụng trong thời của thánh sử, bởi vì thánh sử muốn bảo vệ hành động của Đấng Cứu Thế trong những nơi không ai mong chờ này hơn là một trung tâm tôn giáo như Giêrusalem. Điều này nhắc chúng ta đến việc Thiên Chúa hiện diện và thực hiện công trình cứu độ của Ngài nơi Ngài muốn, chứ không phải nơi con người muốn. Tóm lại, những chi tiết về địa danh này nhắc nhở chúng ta đến việc khôn ngoan trong sứ vụ. Khi chúng ta thực hiện một sứ vụ được trao, chúng ta phải lưu ý đến hai tiêu chuẩn: Thánh ý Thiên Chúa và mang lại sự “an toàn” cho mình. Sự an toàn ở đây không duy mang tính thể lý, nhưng tính luân lý và thiêng liêng, tức là không đặt mình vào trong những môi trường có thể làm chúng ta lãng quên hay làm mất lòng Chúa khi thi hành sứ vụ.
Chi tiết thứ hai Thánh Mátthêu nhấn mạnh trong Tin Mừng hôm này là nội dung lời giảng dạy của Chúa Giêsu: “Từ lúc đó, Đức Giêsu bắt đầu rao giảng và nói rằng: ‘Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần’” (Mt 4:17). Theo các học giả Kinh Thánh, bên cạnh sứ điệp Phục Sinh, việc rao giảng Nước Trời là sứ điệp trung tâm của Chúa Giêsu và là nền tảng và đối tượng của niềm hy vọng Kitô Giáo. Bắt nguồn từ thị kiến ban đêm của Đanien (Đn 7:13-14), sứ điệp của Chúa Giêsu trình bày một tương lai về ơn cứu độ cuối cùng cho toàn thể nhân loại về tất cả các phương diện như xã hội, chính trị và thiêng liêng liên quan đến việc sử dụng quyền thống trị của Thiên Chúa. Quyền thống trị này nhằm thiết lập sự công bình và bình an dưới đất cũng như trên trời. Chi tiết này mời gọi những người đang rao giảng sứ điệp Nước Thiên Chúa phải biết biến cuộc đời của mình thành sứ điệp, đó là thành những người mang sự bình an, công bình và yêu thương của Thiên Chúa cho anh chị em mình.
Phần 2 của bài Tin Mừng bắt đầu với câu giới thiệu Bài Giảng Trên Núi (Mt 4:23-7:29). Câu 23 là câu quan trọng nhất: “Thế rồi Đức Giêsu đi khắp miền Galilê, giảng dạy trong các hội đường, rao giảng Tin Mừng Nước Trời, và chữa hết mọi kẻ bệnh hoạn tật nguyền trong dân.” Câu này cho chúng ta một bản báo cáo tóm tắt về sứ vụ của Chúa Giêsu. Nó gồm một mệnh đề chính và ba mệnh đề phụ tạo thành một “bộ ba.” Chính bộ ba này tạo ra cấu trúc ABA’ và trong cấu trúc này yếu tố B, “rao giảng Tin Mừng Nước Trời” là yếu tố trung tâm sứ điệp rao giảng của Chúa Giêsu. Yếu tố này được đóng khung giữa “giảng dạy trong các hội đường” và “chữa lành.” Tương quan giữa ba yếu tố này như sau: Tin Mừng Nước Trời được rao giảng và được hoàn thành bởi lời và hành động. Chúng ta cũng được mời gọi rao giảng Nước Trời bằng lời nói và hạnh động. Nói cách cụ thể hơn, lời nói và hành động phải đi đôi với nhau! Nếu không, hành động và lời nói chúng ta sẽ trở nên phản Tin Mừng.
Tiếp đến, Thánh Matthêu thuật lại việc Chúa Giêsu gọi những người môn đệ đầu tiên. Họ có chung một nghề, đó là đánh cá. Tuy nhiên, Ngài gọi họ trong những hoàn cảnh khác nhau. Chúng ta cùng phân tích hoàn cảnh Chúa Giêsu gọi các ông để suy gẫm về ơn gọi của chính mình. Hai người đầu tiên được Chúa Giêsu gọi như sau: “Khi ấy, Đức Giêsu đang đi dọc theo biển hồ Galilê, thì thấy hai anh em kia, là ông Simôn, cũng gọi là Phêrô, và người anh là ông Anrê, đang quăng chài xuống biển, vì các ông làm nghề đánh cá. Người bảo các ông: ‘Các anh hãy đi theo tôi, tôi sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới người như lưới cá.’ Lập tức hai ông bỏ chài lưới mà theo Người” (Mt 4:18-20). Chúng ta thấy hai ông được gọi đang khi “quăng chài xuống biển.” Nói cách khác, các ông được gọi đang khi làm công việc mưu sinh hằng ngày của mình. Chúa cũng đến với chúng ta trong lúc chúng ta đang bận rộn với công việc mưu sinh của ngày sống. Liệu chúng ta có mau mắn đáp lại không?
Hai người con của ông Dêbêđê được gọi không phải lúc đánh cá, mà trong lúc đang vá lưới: “Đi một quảng nữa, Người thấy hai anh em khác con ông Dêbêđê, là ông Giacôbê và người em là ông Gioan. Hai ông này đang cùng với cha là ông Dêbêđê vá lưới ở trong thuyền. Người gọi các ông. Lập tức, các ông bỏ thuyền, bỏ cha lại mà theo Người” (Mt 4:21-22). Chi tiết này cho thấy ngay cả khi không thực hiện công việc chính của mình [đánh cá], nhưng làm những công việc chuẩn bị hay bên lề thì Chúa vẫn đến gọi chúng ta. Chúa không để ý đến việc chúng ta đang làm việc chính hay việc phụ. Điều Chúa mong chờ là chúng ta có đáp trả hay không. Vì vậy, khi theo Chúa đừng quan tâm đến công việc, nhưng cần lưu tâm đến sự đáp trả trọn tâm tình của mình trước lời mời gọi của Chúa.
Chi tiết cuối cùng chúng có thể suy gẫm là việc bốn ông lập tức bỏ mọi sự mà theo Chúa Giêsu. Anrê và Phêrô bỏ kế sinh nhai của mình, Giacôbê và Gioan không chỉ bỏ kế sinh nhai mà còn bỏ mối tương quan ruột thịt của mình để bắt đầu gia nhập một mối tương quan mới trong gia đình mới mà Chúa Giêsu sẽ thiết lập. Theo Chúa Giêsu là chuyển hướng cuộc sống của mình; theo Chúa Giêsu là bỏ lại đằng sau những lo toan của ngày sống; theo Chúa Giêsu là đón nhận hành trình mà Ngài sẽ đi; theo Chúa Giêsu là không còn giữ lại gì cho chính mình.
Lm. Antôn Nguyễn Ngọc Dũng, SDB
