Sự cô đơn đã trở thành một vấn đề mang tính cấu trúc và là mối quan hệ tâm trí của y tế công cộng, tác động đặc biệt quan trọng đối với thanh thiếu niên, nhóm tuổi mà tỷ lệ trải nghiệm cô đơn hiện nay đã vượt qua cả những người trên 60 tuổi. Bài viết này phân tích cách chủ nghĩa cá nhân được đưa đến cực cực, cùng với sự suy yếu của thiết chế gia đình, mở đường cho một trạng thái cô lập mà, một cách nghịch lý, lại song hành với tình trạng siêu kết nối kỹ thuật số. Từ góc nhìn đạo đức sinh học, bài viết xem xét nguy cơ công nghệ và trí tuệ nhân tạo thay thế các mối tương quan con người thực sự, mang lại một dạng “gây mê cảm xúc” bạc không thể đáp ứng nhu cầu mang tính nhân học về mối tương quan, đồng thời đặt ra yêu cấp bách phải tái tạo những không gian sống thực đích trước mối đe dọa của sự cô đơn bị bình thường hóa.

Sự cô đơn đã trở thành một trong những hiện tượng xã hội và sức khoẻ mạnh mẽ lo nhất của thời đại chúng ta, với tác động đặc biệt sâu sắc đối với thanh thiếu niên và người trẻ. Không còn là trải nghiệm bên lề hay nhất thời gian, nhiều nghiên cứu gần đây đều thống nhất rằng đây là một vấn đề mang tính cấu trúc, gắn chặt với sức khỏe tâm thần, những biến đổi xã hội và việc sử dụng ngày càng tăng các công nghệ nghệ thuật.

Một báo cáo quốc tế dựa trên nghiên cứu do Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cung cấp cho thấy thanh thiếu niên hiện là nhóm trải nghiệm sự cô đơn nhiều nhất trên phạm vi toàn cầu. Câu 20,9% thanh thiếu niên cho biết họ cảm thấy cô đơn; tỷ lệ này ở giới tính nữ tăng lên 24,3%, rõ ràng xóa bỏ các nhóm tuổi khác, bao gồm cả những người trên 60 tuổi. Dữ liệu này đã phá vỡ kiến ​​trúc cho rằng cô đơn gần như chỉ gắn liền với tuổi già, đồng thời cho thấy đây là một giai đoạn cuộc đời đặc biệt dễ bị tổn thương.

Sự cô đơn, công nghệ và những giải pháp kỹ thuật số

Bối cảnh cảnh này giúp giải quyết những hiện tượng gần đây, nghĩ ra giới hạn như sự thành công tại Trung Quốc của một ứng dụng được thiết kế cho những đứa trẻ đang sống với mình, với chức năng xác thực xác nhận rằng chúng vẫn còn sống và gửi cảnh báo đến một liên hệ nếu việc xác nhận không được thực hiện. Theo nhiều phương tiện truyền thông tiện ích, trong đó có  La Nación , ứng dụng này – hiện nằm trong số những ứng dụng được tải xuống nhiều nhất – không ứng dụng ứng dụng với một tình huống khẩn cấp cụ thể, mà phản ánh nhẹ một nỗi sợ hãi lan rộng về sự vô xã hội: khả năng gặp tai nạn hoặc khủng hoảng mà không ai hay biết. Tính lan truyền của công cụ này đã tìm ra cách công nghệ đang cố gắng vượt qua, một cách chế độ và đầy mơ hồ, bù đắp cho sự thiếu vắng các mối tương quan con người ổn định.

Vấn đề xuất bản này đặt ra những câu hỏi quan trọng: Công nghệ có thể – hoặc có nên – thay thế sự hiện diện, chăm sóc và trách nhiệm chung hay không? Chúng tôi đang tiến bộ bình thường hóa cấu trúc máy tính đơn đơn thay vì giải quyết nó như một vấn đề mang tính xã hội và tương quan chăng?

Trường hợp Tây Bản Nha: một thời gian thực hiện dài

Tại Tây Ban Nha, tình hình cũng không đáng sợ lo.  Nghiên cứu về Sự cô đơn không mong muốn và Thanh niên tại Tây Bản Nha  cho thấy cứ 4 người trẻ trong độ tuổi từ 16 đến 29 thì có 1 người (25,5%) đang phải chịu đựng sự cô đơn ngoài ý muốn, và gần nửa số trường hợp, tình trạng này kéo dài hơn 3 năm. Ngoài ra, 69% thanh niên biết họ đã từng cảm thấy cô đơn vào một thời điểm nào đó, với tỷ lệ cao hơn ở giới nữ và trong nhóm tuổi từ 21 đến 26.

nghiên cứu cũng chỉ ra những yếu tố nghiên cứu nguy cơ đáng kể: sự cô đơn phổ biến hơn ở những người trẻ gặp khó khăn kinh tế, từng trải qua bạo lực học đường, và trong nhóm dễ bị tổn thương. Hơn nữa, dù việc sử dụng mạng xã hội không phải là nguyên nhân trực tiếp, nhưng thay thế mối tương quan trực tiếp bằng những kết nối bạch thuốc trực tuyến làm tăng gấp đôi nguy cơ cơ rơi vào tình trạng cô đơn.

Một vấn đề sức khỏe và đạo đức xã hội

Hệ thống của sự cô đơn không chỉ giới hạn ở phương diện cảm xúc. Hiện tượng này có mối tương quan hai chiều với sức khỏe tâm thần: những người trẻ trải nghiệm cô đơn có nguy cơ gặp các vấn đề tâm lý cao gấp 2,5 lần, và tỷ lệ xuất hiện ý tưởng tự sát gia tăng ở mức đáng báo động. Những dữ liệu này được nêu trong nghiên cứu nói trên, cho thấy sự đơn đơn ở thanh niên đã trở thành một vấn đề y tế công cộng thực sự.

Thực tế này thiết lập một công thức trực tiếp cho toàn xã hội. Vấn đề không chỉ nằm ở việc thiết kế các chiến lược đối phó mang tính cá nhân hay các ứng dụng công nghệ, mà xói mòn việc củng cố các mối liên kết cộng đồng, tăng cường giáo dục cảm xúc và phát triển các chính sách hòa nhập, đồng thời thừa nhận rằng con người, về bản chất, là những người hữu cơ mang tính tương quan. Sự việc cô đơn kéo dài ở trẻ không chỉ đơn thuần là một triệu chứng mang tính thế hệ, mà còn là dấu ấn về kiểu xã hội mà chúng ta đang xây dựng, cũng như về nhu cầu cấp thiết phải suy nghĩ lại, cả trên bình diện đạo đức, cách chúng ta cùng chung sống và chăm sóc nhau.

Cội rễ của cô lập

Để hiểu được quy mô của sự cô đơn nơi người trẻ, cần xem xét xa hơn các bảng số thống và nhận biết những nền tảng tư tưởng nuôi dưỡng nó: một chủ nghĩa cá nhân được đưa tới cực chất, làm mộc bản chất xã hội của con người. Theo Nacho Tornel, Tiến sĩ Luật và Chuyên gia Hòa giải Gia đình Phục hồi, “Văn hóa cân bằng cung cấp chúng ta tới sự tự trị tuyệt đối, xem sự phụ thuộc lẫn nhau như một dạng bệnh lý và phủ nhận chân lý mang tính nhân học nền rằng ‘con người không tốt khi ở một mình. Bối cảnh này đã hình thành nên một loại thanh hiện đại, được kiểm tra bởi chủ nghĩa, chủ nghĩa và một hoạt động, khoảng trống ồn ào để né tránh sự phản ánh nội tâm và công việc khám phá bản thân.”

Chúng tôi đang trải nghiệm nghịch lý của xã hội thịnh vượng và kết nối công nghệ nhất trong lịch sử, nhưng cũng là nơi cư trú của những người trẻ cô lập nhất. Họ thường thay thế các mối tương quan sâu sắc bằng một cảm giác tự động làm chệch câu lạc bộ, khi thiếu cam kết và định hướng về công hữu, cảm giác giác tự động làm cuối cuộc làm tổn hại chính sản phẩm giá của họ. Trước sự tăng cường của các hộ gia đình đơn thân và lối sống biệt lập , các bằng chứng khoa học – phê hạn như nghiên cứu dọc của Harvard – khẳng định rằng hạnh phúc không nằm ở thành công cá nhân hay sự tự đủ, mà ở chất lượng mối tương quan và trong công việc phục vụ tha nhân một cách chân thành.

Đánh giá từ góc độ đạo đức sinh học

Những yếu tố mang tính cấu trúc trong xã hội hiện đại có thể được xác định là lời khuyên cho cuộc khủng hoảng cô đơn được áp dụng. Trước hết và quan trọng nhất là sự xem nhẹ vai trò của thiết kế gia đình, vốn là trường học của các mối tương quan con người, nơi nâng cao và là môi trường đặc quyền cho quá trình xã hội hóa.

Cuộc khủng hoảng liên quan đến sự biến đổi hôn nhân, tỷ lệ sinh thấp, việc cổ suy các mô hình gia đình thay thế, hoặc sao nhãng nhiệm vụ giáo dục của nhiều bậc cha mẹ vì quá bận rộn với năng suất, đã đưa người trẻ đương đại vào những tình huống cô lập có thể dẫn đến các hệ thống mang tính tính lý lý.

Trong bối cảnh này, sự nặng bom của trí tuệ nhân tạo tạo sinh, vốn tái hiện những hình thức giao tiếp tương tự, thậm chí đôi khi không thể phân biệt với giao tiếp tiếp theo của con người, đang bắt đầu đầy khoảng trống do sự vắng mặt của cha mẹ, anh chị em, bạn bè, hàng xóm hoặc thậm chí cả những mối quan hệ tương quan giao dịch tối thiểu. Các mối tương quan với những nhân vật mô phỏng, ngày càng thành công trong việc mô phỏng công thức và tương tác của con người, có nguy cơ trở thành yếu tố làm nhân lên sự cô lập và những hệ kết quả của nó đối với nhiều người trẻ, những người dần tách rời khỏi thực tại mà họ không còn tương tác, và chấp nhận một dạng “gây mê cảm xúc” cho phép họ, thông qua các hình đại diện do AI tạo ra, từ bỏ chiều kích nhân nhất bản của con người: chiều kích tương quan. Chiều kích này làm phong phú đời sống, giúp con người thoát khỏi nô lệ của bản thân chiều chiều, và mở ra với siêu việt, với tha nhân…

Chúng tôi đang chứng minh, với mối quan hệ tình yêu ngày càng tăng, sức hấp dẫn của thế giới ảo lan rộng một cách thiếu kiểm soát. Nhờ các công nghệ mới, thế giới ấy đã quyến rũ nhiều người, đồng thời tước đi của họ sự kết nối với người đích thực. Sự thờ ơ đáng báo động trước nguy cơ to lớn này làm tăng khả năng cô lập và bần cùng hóa học đối với vô số trẻ và người trưởng thành, những người đang dần rời bỏ sự giàu có của mối tương quan con người thực sự, với những rủi ro, khám phá, hy sinh và thành công vốn có của chúng. Điều đặc biệt đúng trong phạm vi gia đình, vốn là một hệ thống sinh thái ưu việt giúp con người phát triển sự nghiệp.

Nt. Anna Ngọc Diệp, OP

Dòng Đa Minh Thánh Tâm

Chuyển từ: exaudi.org

Nguồn: hdgmvietnam.com