
(Hs 14:2-10; Mc 12:28b-34)
Trong bài đọc 1, qua lời sấm của Ngôn Sứ Hôsê, Đức Chúa gọi con cái Israel trở về với Ngài vì họ đã vấp ngã, đã chạy theo tôn thờ các ngẫu tượng. Ngài mời gọi họ trở về với Ngài trong lời cầu nguyện và lời cầu nguyện này bao gồm hai yếu tố quan trọng, đó là nhận ra lỗi phạm của mình để xin Chúa tha thứ và hứa với Ngài không còn cậy dựa vào con người hoặc ngẫu tượng: “Hãy thưa với Người: ‘Xin thứ tha mọi gian ác, xin vui nhận lời ngợi khen chúng con dâng lên Ngài làm lễ vật thay thế bò tơ. Chúng con sẽ không cầu cứu với Átsua, sẽ không cậy nhờ vào chiến mã, cũng chẳng gọi là thần những sản phẩm tay chúng con làm ra, vì chỉ ở nơi Ngài, kẻ mồ côi mới tìm được lòng thương cảm’” (Hs 14:3-4). Khi chúng ta thật lòng trở về với Đức Chúa, Ngài “sẽ chữa chúng khỏi tội bất trung, sẽ yêu thương chúng hết tình, vì cơn giận của Ta sẽ không còn đeo đuổi chúng” (Hs 14:5). Những lời này mang lại cho chúng ta sự an ủi lớn lao. Dù chúng ta tội lỗi thế nào, nhưng biết sám hối và quyết định từ bỏ lối sống của mình, Đức Chúa sẽ chữa lành và yêu thương chúng ta hết tình. Đây cũng là thách đố cho chúng ta khi đối xử với anh chị em mình. Liệu chúng ta có tha thứ và yêu cách hết tình những người đã làm chúng ta tổn thương không?
Đoạn Tin Mừng hôm nay trình thuật cho chúng ta cuộc tranh luận liên quan đến giới răn hàng đầu trong 613 giới răn của luật Cựu Ước. Đây là một đề tài thường được đưa ra bàn thảo giữa các thầy dạy Do Thái nổi tiếng. Câu hỏi được một kinh sư đặt ra cho Chúa Giêsu là: “Thưa Thầy, trong mọi điều răn, điều răn nào đứng hàng đầu?” (Mc 12:28b). Thông thường các kinh sư và người Pharisêu có thái độ chống đối với Chúa Giêsu. Họ thường thử Ngài. Nhưng trong bối cảnh này, người kinh sư không mang vẻ muốn tấn công hay thử Chúa Giêsu, mà là muốn biết đâu là giới răn quan trọng nhất. Thật vậy, chính thái độ và khát vọng chân thật muốn học hỏi từ Chúa Giêsu đã biến cuộc gặp gỡ thành một buổi học hỏi hơn là một cuộc tranh luận. Điều này được chứng tỏ qua việc Chúa Giêsu đã khen ông ta: “Đức Giêsu thấy ông ta trả lời khôn ngoan như vậy, thì bảo: ‘Ông không còn xa Nước Thiên Chúa đâu!’” (Mc 12:34). Chi tiết này dạy chúng ta một điều, đó là trong cuộc sống chúng ta cần tránh thái độ ‘vơ đũa cả nắm,’ hay đúng hơn là thái độ ‘tổng quát hoá’ – từ một sự kiện, chúng ta tổng quát hoá nó lên và gán cho người khác cái mác họ là như thế. Con người là một hữu thể có khả năng chọn lựa để thay đổi. Vì vậy, chúng ta cần nhìn người khác với con tim và tâm trí rộng mở, để có thể đón nhận và yêu thương họ mà không có thành kiến.
Câu hỏi mà người kinh sư đưa ra cho Chúa Giêsu thường là câu hỏi được đặt cho các rabbi. Câu trả lời nổi tiếng của Hillel là: “Điều gì chính mình ghét, đừng làm cho người thân cận của mình. Đây chính là toàn bộ lề luật; phần còn lại chỉ là giải thích. Hãy đi và học!” Đây là câu trả lời của Hillel cho một người mới tin đạo mong muốn được biết về đạo. Bối cảnh này phản ánh điều đang xảy ra giữa Chúa Giêsu và người kinh sư. Trước câu hỏi của vị kinh sư, Chúa Giêsu trả lời: “Điều răn đứng hàng đầu là: Nghe đây, hỡi Israel, Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là Đức Chúa duy nhất. Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực ngươi. Điều răn thứ hai là: Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình. Chẳng có điều răn nào khác lớn hơn các điều răn đó” (Mc 12:29-31). Câu trả lời của Chúa Giêsu bao gồm hai câu trích từ sách Đệ Nhị Luật (6:4-5) và Lêvi (19:18). Điều này chứng tỏ lời dạy của Chúa Giêsu là chính thống như một thầy dạy Do Thái và chứng minh việc Ngài yêu thích đưa thính giả của mình trở về với nền tảng của mọi sự. Câu trích từ sách Đệ Nhị Luật (6:4-5) là bản văn đầu tiên trong ba bản văn được những người Do Thái đạo đức đọc hai lần trong ngày (Đnl 6:4-9; 11:13-21; Ds 15:37-41). Giới răn yêu Chúa tuôn chảy từ chính bản chất của Ngài là Thiên Chúa duy nhất. Bốn danh từ được nêu ra trong câu 30 [lòng, linh hồn, trí khôn và sức lực] không ám chỉ đến bốn bộ phận khác nhau của con người, nhưng là cách thức để nhấn mạnh rằng toàn bộ con người phải yêu mến Thiên Chúa. Dù người kinh sư chỉ hỏi một giới răn, Chúa Giêsu thêm giới răn thứ hai. Theo các học giả Kinh Thánh, đây không phải là một nỗ lực đánh đồng hay nối hai giới răn lại với nhau [như trong Tin Mừng Thánh Luca]. Hai giới răn được nối với nhau bởi từ ‘yêu.’ Chính giới răn yêu Chúa làm cho giới răn yêu người thân cận như chính mình là có thể. Điều này cho thấy chỉ những ai có một tình yêu chân thật dành cho Chúa mới có thể yêu người khác cách chân thật.
Khi nghe Chúa Giêsu trả lời cách khôn ngoan và chính thống, người kinh sư thốt lên: “Thưa Thầy, hay lắm, Thầy nói rất đúng. Thiên Chúa là Đấng duy nhất, ngoài Người ra không có Đấng nào khác. Yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết trí khôn, hết sức lực, và yêu người thân cận như chính mình, là điều quý hơn mọi lễ toàn thiêu và hy lễ” (Mc 12:32-33). Ông ta tán thành với lời dạy của Chúa Giêsu bằng cách nhắc lại câu trả lời của Ngài không với cung giọng tấn công hay khinh thường. Qua lời dạy của Chúa Giêsu ông ta hiểu hơn về mối tương quan giữa tình yêu và hy tế. Bằng lời của mình, người kinh sư đơn giản bày tỏ sự hiểu biết của mình sau khi được Chúa Giêsu chỉ dạy, đó là tình yêu dành cho Thiên Chúa và người thân cận phải là những nguyên lý căn bản nâng đỡ toàn bộ hệ thống hy tế. Chi tiết này nhắc nhở chúng ta rằng, những hy sinh của chúng ta sẽ không có giá trị gì nếu chúng không xuất phát từ động lực yêu Chúa và yêu anh chị em mình.
Lm. Antôn Nguyễn Ngọc Dũng, SDB
