KHỔ CHẾ MẾN THÁNH GIÁ
DƯỚI ÁNH SÁNG CỦA MẦU NHIỆM VƯỢT QUA (tt)
III. KHỔ CHẾ MẾN THÁNH GIÁ DƯỚI ÁNH SÁNG CỦA MẦU NHIỆM VƯỢT QUA
Bản Luật tiên khởi Đức Cha Lambert de la Motte viết cho Dòng Mến Thánh Giá mở đầu như sau: “Vì ý định của Con Thiên Chúa khi chịu chết để cứu độ nhân loại là đòi buộc mọi người phải chết đi đối với chính mình, và chỉ sống cho Chúa, theo giáo huấn của Thánh Phaolô viết cho tín hữu Côrintô: “Đức Kitô đã chết thay cho mọi người, để những ai đang sống, không còn sống cho chính mình nữa, mà sống cho Đấng đã chết và sống lại vì mình” (2Cr 5.15)”[1].
Những lời đó nói lên ý nghĩa của việc người môn đệ bước theo Chúa Kitô chính là tham dự ngày càng ý thức hơn vào mầu nhiệm thương khó, chết và sống lại của Người. Đời sống thánh hiến còn phải trở nên chứng nhân “nhờ việc tuyên giữ các lời khuyên của Tin Mừng, các nét đặc trưng của Đức Giêsu – Khiết tịnh, nghèo khó và vâng phục – trở thành hữu hình giữa lòng thế giới như một gương mẫu thường hằng, và các tín hữu được mời gọi hướng nhìn về mầu nhiệm Nước Thiên Chúa đã tác động trong lịch sử, nhưng còn đang chờ đạt tới viên mãn ở trên trời”[2]. Vì thế, hơn bao giờ hết, giữa một thế giới mà cơn sốt của đời sống hưởng thụ đang ngày càng trỗi mạnh, khiến tâm hồn chúng ta dễ bị mê mẫn bởi những thứ bề ngoài, thừa thải; trước sự nổi loạn của khoái lạc và lạm dụng quyền hành dưới nhiều hình thức, Giáo Hội cần có những nhân chứng về mầu nhiệm phục sinh của Đức Kitô, mà giai đoạn đầu phải là giai đoạn thập giá[3]. Điều này rất phù hợp với những gì được nói đến trong huấn thị “Những Chỉ Dẫn Về Việc Huấn Luyện Trong Các Dòng Tu” là phải có khổ chế[4].
3.1. Chết đi đối với chính mình nghĩa là gì?
Theo tiến sĩ Jared Ortiz: “Kinh thánh dạy chúng ta rằng “không ai có thể thấy Thiên Chúa mà còn sống” (Xh 33, 20). Vì vậy, để thấy Thiên Chúa, chúng ta phải chết. Để thấy Thiên Chúa trong cuộc sống này, chúng ta phải chết đối với thế gian và chết đối với chính mình, điều đó có nghĩa là cần phải có một loại khổ hạnh triệt để nào đó” [5].
Nhưng tại sao cái chết khổ hạnh cần thiết để gặp thấy Chúa? Nguyên nhân nằm ở tội lỗi. Chính tội lỗi đã làm hỏng mối quan hệ của chúng ta với mọi thứ bằng cách làm hỏng thái độ tự nhiên của tâm hồn, suy nghĩ, ý chí của chúng ta[6]. Sau tội nguyên tổ, bản tính của chúng ta có khuynh hướng làm điều dữ. Chính vì khuynh hướng dai dẳng này mà chúng ta nhất định phải chết đi, phải khổ chế. Mặt khác, không chỉ hậu quả của tội nguyên tổ, nhưng cả hiện tội và hậu quả của nó cũng buộc chúng ta phải khổ chế. Ở đây, đức tiết độ Kitô giáo rất khác so với sự tiết độ thuần túy tự nhiên vốn đã được thế gian biết đến. Như thế, có thể suy ra rằng, nếu tín điều về tội nguyên tổ và những hậu quả của nó là một phần thiết yếu trong giáo lý Kitô giáo, thì khổ chế cũng phải là một phần thiết yếu như vậy[7].
Riêng đối với bậc tu trì, thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II nhắn nhủ: “Khổ chế giúp chế ngự và sửa chữa những khuynh hướng của bản tính nhân loại đã bị tổn thương vì tội lỗi, khổ chế rất cần thiết để người tận hiến trung thành với ơn gọi của mình và bước theo Đức Giêsu trên con đường thập giá”[8].
Nơi bài viết về “Dốc lòng của một Thừa sai Tông tòa khi vào nơi Truyền giáo của mình”, Đức Cha Lambert cũng nói đến nguyên tội chính là cội nguồn phát sinh mọi sự dữ bên trong chúng ta, những tội bất trung kinh tởm đó đã để lại trong các khả năng của tâm trí một thói quen hướng chiều về tội lỗi. Vì thế, chúng ta phải luôn hối tiếc đến hơi thở cuối đời vì đã hiểu biết quá ít, yêu mến quá ít, tạ ơn quá ít Đấng Tạo hóa của chúng ta[9]. Mỗi chúng ta đều bị khuynh hướng sâu xa nhất của bản thể quy hướng vào chính mình, thay vì hướng trực tiếp đến Thiên Chúa, chúng ta liên hệ mọi thứ với chính mình thay vì quy chiếu tất cả mọi thứ cho Đấng Tạo Thành. Đó là lý do tại sao để tìm lại Người, điều cốt yếu là phải thật sự ao ước chết đi đối với chính mình[10].
3.2. Chết đi đối với thế gian
Ơn gọi Mến Thánh Giá thật cao quý, cao quý đến nỗi Đức Cha Lambert khẳng định với các nữ tu Mến Thánh Giá tiên khởi: “Nếu các con muốn đi theo con đường trọn lành này, thì các con sẽ đạt tới mức độ rất cao trong sự hiểu biết và yêu mến Đức Giê-su Ki-tô. Đó là điều làm nên tất cả hạnh phúc đời này và đời sau”[11]. Nơi khác ngài viết: “Thật rất đáng kinh ngạc, vì người ta tìm ở đâu đâu những phương thế cần thiết cho việc nên thánh, chứ không tìm nơi Thánh Giá…” và rằng: “vác Thánh Giá Chúa Cứu Thế trong tâm hồn và ngoài thể xác là việc đạo đức vượt trên các việc đạo đức khác”[12]. Dầu vậy, Đức cha cũng thấu hiểu không phải dễ dàng để được bền đỗ dài lâu trong ơn gọi này, vì thế, sau khi nhận lời khấn của hai nữ tu đầu tiên là chị Anê và Paula, trước khi trở về Xiêm La, vào ngày 26 tháng 2 năm 1760, tại Cửa khẩu Đàng Ngoài, ngài viết cho họ một bức thư trong đó có đoạn ngài căn dặn như sau: “Các con thấy được rằng ơn gọi của mình cao trọng dường nào và các con đã chết đi đối với thế gian, nghĩa là đối với các giác quan, bản tính tự nhiên và lý trí người đời, để từ nay chỉ sống bằng những châm ngôn, những thực hành và bằng chính đời sống của Chúa Giêsu Kitô”.
Đức cha Lambert giải thích: Chết đi đối với thế gian đó là chết đi đối với các giác quan, chết đi đối với bản tính tự nhiên nơi con người mình và chết đi đối với lý trí người đời. Có thể nói đây là bản tóm tắt về những thực hành khổ chế mà người nữ tu Mến Thánh Giá phải lưu tâm tập luyện hằng ngày để nên thánh.
Theo các nhà tu đức con người chịu cám dỗ theo ba cách: thế gian, xác thịt và ma quỷ. Xác thịt nhắm điều khiển thể xác, thế gian nhắm chế ngự thể xác cùng tinh thần và ma quỷ nhắm thu tóm cả ba: thể xác, tinh thần và linh hồn. Xác thịt cám dỗ từ bên trong, thế gian cám dỗ từ bên ngoài và ma quỷ kết hợp cả hai[13].
Trong thư thứ nhất, thánh Gioan diễn tả cám dỗ của thế gian và xác thịt như sau:“Vì mọi sự trong thế gian: như dục vọng của tính xác thịt, dục vọng của đôi mắt và thói cậy mình có của, tất cả những cái đó không phát xuất từ Chúa Cha, nhưng phát xuất từ thế gian” (1Ga 2.16).
Vì thế, Giáo Hội dạy Nước Thiên Chúa mà đời tu “làm chứng rằng vượt trên mọi sự trần thế”[14], tu sĩ phải trở nên nhân chứng khước từ những gì mà thánh Gioan tông đồ gọi là “thế gian” và “các dục vọng của nó”, khởi đi từ yêu cầu của Chúa Giê-su đối với các môn đệ là hãy giữ mình để không thuộc về thế gian, mà ngày nay thường được nhắc đến, chính là tính thế tục đang có nguy cơ nắm giữ tiêu chuẩn suy nghĩ, hành động của các tu sĩ. Đức Thánh Cha Phanxico nhắc chúng ta hãy nhớ lời cầu nguyện của Chúa Giê-su trong Phòng Tiệc Ly:“Con không xin Cha lấy họ ra khỏi thế gian, nhưng xin Cha gìn giữ họ khỏi tinh thần thế gian”. Khi người ta theo các tiêu chuẩn của thế gian thay vì các tiêu chuẩn của Chúa Giêsu, thì đó là hoàn toàn đi ngược lại điều vốn là đặc trưng của sự thánh hiến tu trì”[15].
Linh đạo Mến Thánh Giá mời gọi chị em luôn “hướng trọn lòng trí vào Chúa Giê-su Ki-tô Chịu- Đóng –Đinh” trong mọi thời khắc của cuộc sống, chính là cách để bảo vệ chúng ta không bị tính thế tục dính chặt vào mình. Và để không đầu hàng nó, còn cần phải có sự khổ hạnh đáng kể, xuất phát từ tình yêu và sự chiêm ngắm Thánh Giá Chúa Giêsu Kitô mỗi ngày.
3.2.1. Chết đi đối với các giác quan
Sách Cách ngôn ca tụng: “Tai để nghe, mắt để thấy, Đức Chúa làm nên cả hai” (Cn 20,12). Thiên Chúa dựng nên cho điều lành chứ không cho điều dữ, nghĩa là mọi giác quan được sử dụng như những khí cụ làm vinh danh Thiên Chúa trên Trời, chứ không phải để cho ma quỷ lợi dụng để trục lợi. Thánh Kinh và các nhà tu đức mọi thời dạy rất nhiều về việc phải canh chừng các cơ quan khả giác. Hãy học làm chủ giác quan. Hãy tập khổ chế đôi mắt: đừng tò mò những gì thuộc về thế gian tục lụy, cách riêng qua đôi mắt, có khuynh hướng khuấy động xác thịt. Giữ gìn đôi mắt giúp gìn giữ tâm hồn trong sạch và linh hồn thanh khiết. Hãy làm chủ những gì mình nói, vì ngôn ngữ là một năng lực mạnh mẽ, nó có thể là khí cụ bình an hay khí cụ chiến tranh: “từ cùng một cái miệng, phát xuất lời chúc tụng lẫn lời nguyền rủa, như vậy là không được” (x Gc 3, 5-10). Hãy canh chừng những gì mình nghe để khỏi vô tình hỗ trợ và động viên những nỗ lực của ma quỷ: “Đừng bao giờ quên rằng, linh hồn bị đầu độc qua đôi tai, cũng như cơ thể bị đầu độc qua miệng lưỡi” (Thánh Phanxico Salesio). Đừng để tri giác của mình quanh quẩn bên những dịp tội. Nhờ ơn Chúa, chúng ta phải đóng kín cửa nhà và đẩy lùi mọi nỗ lực thâm nhập của ma quỷ, bởi vì “ngay cả khi chúng ta không muốn, bọn cướp vẫn lẻn vào qua những cánh cửa giác quan. Làm sao ngôi nhà có thể không tối sầm lại bởi khói đen bên ngoài ùa vào qua những cánh cửa nhỏ đã mở toang” (Thánh Gregorio Nazianzus) [16].
Chân phước Henry Suso khuyên: “Hãy điều khiển giác quan, gìn giữ môi miệng, kiềm chế cái lưỡi, chinh phục con tim, gánh chịu mọi khiêu khích bằng lòng mến…và con sẽ thực hiện trọn vẹn thánh ý Chúa”[17].
3.2.2. Chết đi đối với bản tính tự nhiên
Việc tuân giữ nếp sống tu trì giúp người tu sĩ từ bỏ những thói hư tật xấu, kìm hãm những cảm xúc và đam mê của bản tính tự nhiên. Ngoài ra, việc khổ chế được gắn liền với đời tu đòi hỏi người tu sĩ phải tập“quen sống thinh lặng và cô tịch, kể cả trong các hội dòng chuyên việc tông đồ”…Cô tịch và thinh lặng, để dễ lắng nghe và nghiền ngẫm Lời Thiên Chúa đồng thời giúp tạo nên sự trưởng thành tâm linh của con người và hiệp thông huynh đệ thực sự trong Đức Ki-tô[18].
Có thể nói, Đức cha Lambert de la Motte, rút từ kinh nghiệm truyền giáo, khi chứng kiến những hậu quả khôn lường của một nếp sống buông thả nơi một số thừa sai, ngài đã khuyên dạy chị em Mến Thánh Giá như đã khuyên dạy các thừa sai là cần phải chết đi đối với bản tính tự nhiên, một cách cụ thể là triệt để chống lại:
- Tính thích dễ dãi, nuông chiều thể xác
Một sự “quá lo lắng cho thân xác và những sự dễ dãi không chính đáng đã dần dần làm suy yếu lòng yêu mến Thiên Chúa nơi nhiều thừa sai khiến họ coi trọng xác thịt hơn tâm linh”[19]. Đối với nữ tu Mến Thánh Giá, Đức cha Lambert từng nhắc đi nhắc lại: vì đã dâng mình trọn vẹn cho Thiên Chúa nên chị em phải luôn ý thức bản thân “không còn thuộc về mình nữa (x.1 Cr 6,19-20) nhưng hoàn toàn thuộc về Chúa Giê-su Ki-tô”. Cảm thức “thuộc về” càng sâu nặng, thì càng giúp người tu sĩ đoạn tuyệt với thói yêu mình, biết tìm kiếm sự trong sạch chứ không phải sự đồi trụy. Nhờ biết giữ sự cô tịch cần thiết, cầu nguyện tích cực, cầu nguyện bền bỉ và cầu nguyện thường xuyên, trong niềm tin vào Chúa Giê-su Kitô, họ đóng đinh con người cũ hư hỏng đầy nhục dục vàoThập giá để có thể trở thành con người mới trong Đức Giêsu Kitô (x. Cl 3, 9-10; 2 Cr 5, 17; Gl 2,20)[20]. Họ sống niềm xác tín như Chân phước Giáo hoàng Phaolo VI diễn giải: “Khi tuyên khấn các lời khuyên Phúc Âm, các tu sĩ tự dấn thân làm tất cả những gì cần thiết để có thể đào sâu và làm tăng triển những gì họ đã cam kết, và như vậy, họ đã tự nguyện chọn con đường thập giá để chứng tỏ tình yêu lớn lao nhất như Đức Kitô đã làm”[21].
- Tính tự cao và tìm kiếm danh vọng
Tính tự cao dẫn đến một cám dỗ khác là “sự nguội lạnh”. Các bậc thầy linh đạo coi đây là một hình thức suy nhược do thiếu khổ chế, chểnh mảng canh thức, lơ là đời sống nội tâm[22]. Việc thèm khát, tìm kiếm danh dự và phần thưởng thế gian cũng có thể trở nên cứ điểm của lòng kiêu ngạo.
Theo Đức Cha Lambert, tính tự phụ một khi đã xâm nhập vào tâm hồn của vị thừa sai, nó liền phá hủy công trình của Thiên Chúa khiến vị này liều lĩnh mà không lường được sức của mình. Ma quỷ khôn khéo làm cho vị thừa sai nghĩ rằng phải tận dụng tối đa những điều kiện thuận lợi về ân sủng lẫn vật chất. Sau khi bị mắc lừa, vị thừa sai sẽ lao vào quá nhiều công việc một cách bất cẩn, đến nỗi bỏ bê những việc đạo đức hằng ngày như cầu nguyện, xét mình, đời sống nội tâm; ngược lại thích sống hướng ngoại, không chu toàn bổn phận thậm chí đến quên mất mình là ai ?[23].
Nền văn hóa thế tục ngày nay cũng dễ lôi kéo người tu sĩ đến một lối sống ẩn giấu tinh thần thế gian mang tính thiêng liêng như thế, nó được hóa trang bằng những thành tích, những hiệu quả bên ngoài, cảm thấy thỏa mãn với những con số thống kê…nhưng thực chất chỉ để tìm kiếm vinh quang của chính mình, nó lấy khỏi chúng ta sự hiện diện của Chúa Giêsu khiêm nhường và chịu sỉ nhục, Chúa gần gũi với mọi người, Chúa Kitô đau khổ với tất cả những người đau khổ, Đấng được dân chúng tôn thờ, Đấng biết ai là bạn thật[24].
Sống khổ chế là sống tinh thần hạt lúa gieo vào lòng đất phải chết đi mới sinh nhiều bông hạt. Cũng vậy, người tu sĩ nếu không dành một chỗ trong đời sống của mình cho “một sự khắc khổ vui tươi và quân bình” (CT 30), và tự nguyện chấp nhận một số giới hạn nào đó, chúng ta có nguy cơ đánh mất sự tự do thiêng liêng cần thiết để sống các lời khuyên Phúc Âm[25].
- Tính tham lam
Tham lam cũng là tôn thờ ngẫu tượng (x. Cl 3. 5). Đức Cha Lambert nhận xét:“Lòng tham vô đáy muốn chiếm hữu tất cả dẫn đến cuộc sống xa hoa và yếu nhược. Từ đó ta mới hiểu nết xấu này đã biến những môn đồ thành tín của đức nghèo khó Tin Mừng trở nên những nô lệ xấu xa của tiền bạc. Đó là cách thức dẫn đưa những tôi tớ của Chúa Kitô đến chỗ phục vụ ma quỉ”[26]. Các nhà tu đức ngày nay cũng cho rằng sự tích lũy của cải thái quá, hay sự ky cóp tiền bạc, tìm kiếm sự an toàn trần tục hơn là an toàn vĩnh cửu nơi Thiên Chúa tự nó sẽ biến thành tham lam, phàm ăn, tự phụ và mở lối cho satan thâm nhập. Ngược lại, một lối sống giản dị, khiêm nhường là một trong những cách phòng ngự satan tốt nhất[27].
Giáo huấn của Giáo Hội cũng lưu ý người sống đời thánh hiến: “Không có sự khắc khổ và từ bỏ, chính sự tận hiến có thể bị phương hại, bởi vì chúng ta không thể làm chứng công khai cho Đức Ki-tô thanh bần, khiết tịnh, và tuân phục mà không có khổ chế”[28]. Đối với những Người Yêu mến Thánh Giá, Đức Cha Lambert còn đòi hỏi:“Họ phải năng trao đổi với Thiên Chúa về những phương thế làm sáng danh Ngài và cứu độ anh chị em đồng loại. Hãm mình đền tội cho chính mình và cho muôn dân […] Đời sống của họ phải là một họa ảnh hoàn hảo cuộc đời của Chúa Giêsu Kitô khi còn ở trần gian”[29]. Đó là một Đức Giêsu khó nghèo, trần trụi và phó thác trọn vẹn trong tay Chúa Cha.
3.2.3. Chết đi đối với lý trí người đời
Lý trí bao gồm những gì được gọi chung là ý nghĩ, trí tuệ và tưởng tượng. Thần học tu đức Kitô giáo đã phác hoạ một vài thực hành khổ chế áp dụng cho các cơ năng tinh thần nhằm tiêu diệt tính kiêu căng và ích kỷ như sau[30]:
- Lý trí
Cần phải hướng đến việc truy tầm chân lý, dẹp bỏ những phán đoán nông nổi dựa theo thành kiến, cảm xúc và dư luận v.v, và nhất là đi tìm sự khôn ngoan của Thiên Chúa chứ không phải sự khôn ngoan của thế gian. Điều này giả thiết việc chuyên chăm nghiền gẫm Lời Chúa ngõ hầu huấn luyện trí phán đoán theo đúng tinh thần Phúc âm.
- Ý chí
Cần được uốn nắn để không tìm thỏa mãn sở thích riêng tư, nhưng tìm kiếm ý Chúa, và vì Chúa sẵn sàng khước từ ý riêng để phục vụ Nước Trời. Như vậy việc thanh luyện ý chí nhằm giúp cho ta tạo ra ý hướng ngay thẳng trong khi hành động: đi tìm vinh danh Chúa, chứ không phải tiếng khen của người đời. Thánh Augustinô giải thích: “khi ý chí rời bỏ Đấng không đổi thay để hướng về cái bị tạo dựng và thay đổi, thì nó sinh ra tội”[31].
- Óc tưởng tượng và ký ức
Chú ý tập trung tư tưởng, không để cho óc tưởng tượng lôi cuốn dông dài. Tránh việc ăn không ngồi rồi, thả hồn theo mộng để mặc xác thịt điều khiển mình.
Khổ chế trong trí tưởng tượng còn là không phí thời gian cho những hồi ức vô bổ và không thích đáng, làm lãng phí thời gian quý báu và khiến chúng ta bỏ lỡ nhiều cơ hội chính đáng làm việc tốt. Thiếu sự khổ chế nội tâm, trí tưởng tượng và óc tò mò, là một trong những kẻ thù lớn nhất cản trở việc nên thánh[32].
– Đối với việc phát triển công nghệ rất nhanh trong thế giới hiện đại, thiết tưởng sự khổ chế trí tuệ cũng cần phải nhắc tới: công nghệ được sử dụng thích đáng, có thể trở nên nguồn ân phúc; ngược lại nó có thể trở thành một lời nguyền. Chúng ta không tránh né những tiến bộ, cũng không để tiến bộ điều khiển mình. Chúng ta nắm lấy công nghệ tùy theo mức độ nó dẫn ta đến gần Chúa và thích hợp với ơn gọi của mình. Không cần chúng ta phải trở nên những ẩn sĩ để gặp gỡ Thiên Chúa. Tuy nhiên, cũng nên kiểm lại xem mỗi ngày bao nhiêu thời giờ không cần thiết ta dành cho máy vi tính, iphone, mạng xã hội, phim ảnh, giải trí…rồi đem so sánh với thời gian mình dành để cầu nguyện, để sống với “Đối tượng duy nhất của lòng trí chúng ta, Đức Giê-su Ki-tô Chịu Đóng Đinh” mà chúng ta tuyên xưng mỗi ngày[33].
- Tư tưởng
Cần phải loại bỏ ngay những ý tưởng xấu, hướng chiều về đam mê (kiêu ngạo, ghen tương, thù hận, giận dữ, tà dâm, v.v). Thánh Toma More dạy: “Hãy để lòng trí con đầy ắp những ý tưởng tốt lành, bằng không, kẻ thù sẽ gieo rắc những điều xấu xa vào đó. Chúng không thể trống rỗng”. Ngoài ra cũng cần tránh tật tọc mạch tìm hiểu những chuyện không cần thiết[34].
Tóm lại, người nữ tu Mến Thánh Giá sống trong thế giới hiện đại, luôn đầy dẫy mọi thứ cám dỗ tinh vi của ma quỷ, phải là những chiến sĩ thiêng liêng, hãy sống bằng việc chết đi. Hãy cầu xin ơn này. Chết để nên thánh, để sống theo điều mà Đấng Sáng lập ước ao nơi con cái của ngài là“chỉ sống cho Chúa, chỉ sống bằng những châm ngôn, những thực hành và bằng chính đời sống của Chúa Giêsu Kitô”[35]. Đức cha Lambert giải thích: chính nhờ sự chết và sống trong Đức Kitô như thế, chúng ta mới có được “trí hiểu biết và khả năng hoạt động để chu toàn những nhiệm vụ cao quý của mình. Nếu không theo đường hướng đó, chắc chắn các hoạt động của nhà truyền giáo sẽ tiêm nhiễm xu hướng sống theo bản tính tự nhiên hoặc theo sự khôn ngoan thế gian là kẻ thù của đời sống Phúc Âm”[36].
Nữ tu Catarina Dương Thị Thu Trang
Hội dòng Mến Thánh Giá Huế
………………………………………………………………
[1] Nhóm NCLĐMTG, Ltk1, trong “Tuyển tập Bút tích (Di Cảo) của Đức Cha Pierre Lambert de La Motte, vị Đại diện Tông tòa Đàng Trong, Đấng Sáng lập Dòng Mến Thánh Giá 1624- 1679”; (LHNB), Sài Gòn, 2017, tr.27.
[2] VC 1.
[3] x. ĐGH PHANXICO, “Sống tốt, Con là một tuyệt tác”, Đồng Nai, 2022,
tr.172-173.
[4] x. PI, số 36-38.
[5] x. Jared ORTIZ, The Catholic World Report, http://daminhvn.net/duc-tin-van-hoa/than-hoc/su-chet-va-su-song-trong-kinh-tin-kinh-ni-xe-a.html.
[6] Nt.
[7] x. Réginald Garrigou-Lagrange O.P, Khổ chế trong « Nhận biết tình yêu đối với Thiên Chúa »; https://www.augustino.net/nhan-biet-tinh-yeu-doi-voi-thien-chua-chuong-06.
[8] VC 38
[9] x. Nhóm NCLĐMTG, Dốc lòng, trong “Tuyển tập Bút tích…”; sđd, tr.128.
[10] x. Jared ORTIZ, sđd.
[11] Nhóm NCLĐMTG, Thư gửi các chị em đã khấn giữ đức khiết tịnh và đang sống vơi nhau từ nhiều năm tại Đàng Ngoài, năm 1670 (Blt), trong “Tuyển tập Bút tích…”, sđd, tr. 21-23.
[12] Nhóm NCLĐMTG, Những cái nhìn mới của một Thừa sai Tông tòa nhận được trong lúc nguyện ngắm, về việc thành lập Hội Tông đồ và Hiệp Hội Những Người Yêu Mến Thánh Giá Đức Giê-su Ki-tô. (Bts), trong “Tuyển tập Bút tích…”, sđd, tr.63.
[13] x. John LABRIOLA, “Cuộc chiến thiêng liêng”, Hồng Đức, 2014, tr.67-68
[14] GH 44.
[15] x. ĐGH PHANXICO, “Sức mạnh của ơn gọi đời sống thánh hiến ngày nay”, Đồng Nai, 2019, tr. 91- 95.
[16] x. John LABRIOLA, sđd, tr. 164tt.
[17] Nt.
[18] x. PI, số 38.
[19] x.FRANCOIS PALLU- PIERRE LAMBERT DE LA MOTTE, « Monita ad Missionarios» I,1. (Nhắn nhủ các thừa sai, Công nghị Ayutthaya 1664), bản dịch của TGM Kon Tum, trong « Khơi nguồn tiếp bước », LHNB, 2004.
[20] x. John LABRIOLA, sđd, tr.70-71.
[21] ET, số 29.
[22] GLHTCG, số 2733.
[23] x. Monita I, 2.
[24] x.Bài giảng của ĐTC Phanxico https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/dtc-phanxico-cu-hanh-le-truyen-dau-tai-den-tho-thanh-phero-44851.
[25] x.YTCY, số 31.
[26] Monita I,1.
[27] x. Jonh LABRIOLA, sđd, tr.184 tt.
[28] YTCY, số 31.
[29] Nhóm NCLĐMTG, 1Nng, trong “Tuyển tập Bút tích…”, sđd, tr. 46-47.
[30] x. PHAN TẤN THÀNH, “Đời Sống Tâm Linh”, sđd.
[31] Thánh AUGUSTINO, “De civitate Dei” Chương XII.6 ; https://hocvienofm.com/bai-viet/than-hoc-luan-ly/thanh-augustino-noi-gi-ve-toi-loi-va-sa-nga.
[32] FERNANDEZ, Suy niệm Lời Chúa Chúa nhật VIII thường niên A, https://www.giaophanbaria.org/chia-se-loi-chua/chua-nhat-va-le-trong/suy-niem-chua-nhat/2014/02/25/don-so-nhu-tre-nho-fernandez.html.
[33] x. John LABROLA, sđd, tr.185.
[34] x. PHAN TẤN THÀNH, sđd.
[35] x. Nhóm NCLĐMTG, Ltk, Btt, trong “Tuyển tập Bút tích…”, sđd tr. 27, 41.
[36] x. Nhóm NCLĐMTG, Suy nghĩ về cuộc hành trình bất thành sang Trung Hoa, năm 1663, trong “Tuyển tập Bút tích…”, sđd, tr. 139.
