Suy Niệm Lời Chúa – Chúa Nhật II Phục Sinh – Sự Sống Đời Đời: Mục Đích Tối Hậu Của Lòng Thương Xót Chúa

(Cv 2:42-47; 1 Pr 1:3-9; Ga 20:19-31)

Hôm nay, chúng ta cùng với Giáo Hội cử hành Chúa Nhật thứ Hai Phục Sinh. Giáo Hội cũng dành Chúa Nhật hôm nay để mừng kính Lòng Chúa thương xót. Chúng ta cùng nhau để lời Chúa hướng dẫn hầu giúp chúng ta hiểu và thực hành lòng thương xót Chúa trong từng ngày sống của mình.

Bài đọc 1 trình bày cho chúng ta hình ảnh tuyệt hảo của cộng đoàn tín hữu đầu tiên. Chúng ta dễ dàng nhận ra những đặc tính quan trọng làm nên một cộng đoàn hiệp nhất một lòng một ý. Một cách cụ thể, tác giả sách Công Vụ Tông Đồ trình bày về đời sống tương quan bên trong của cộng đoàn bao gồm những đặc tính sau: (1) “các tín hữu chuyên cần nghe các Tông Đồ giảng dạy, luôn luôn hiệp thông với nhau, siêng năng tham dự lễ bẻ bánh, và cầu nguyện không ngừng” (Cv 2:42); (2) “mọi người đều kinh sợ, vì các Tông Đồ làm nhiều điềm thiêng dấu lạ” (Cv 2:43); (3) “Tất cả các tín hữu hợp nhất với nhau, và để mọi sự làm của chung. Họ đem bán đất đai của cải, lấy tiền chia cho mỗi người tuỳ theo nhu cầu” (Cv 2:44-45). Chính đời sống hiệp nhất trong yêu thương và phục vụ này mà cộng đoàn tín hữu đầu tiên được mọi người yêu mến và trở thành chứng nhân của Chúa cho mọi người: “Họ đồng tâm nhất trí, ngày ngày chuyên cần đến Đền Thờ. Khi làm lễ bẻ bánh tại tư gia, họ dùng bữa với lòng đơn sơ vui vẻ. Họ ca tụng Thiên Chúa, và được toàn dân thương mến. Và Chúa cho cộng đoàn mỗi ngày có thêm những người được cứu độ” (Cv 2:46-47).

Lòng thương xót Chúa được thể hiện trong đời sống hiệp nhất, yêu thương và tha thứ của mọi tín hữu dành cho anh chị em mình. Làm sao chúng ta có thể nói đến lòng Chúa thương xót khi chính trong gia đình, trong hội đoàn, trong giáo xứ, trong giáo phận hoặc trong Giáo Hội sống trong sự tranh chấp và chia rẽ? Nhiều người trong chúng ta hiểu lòng thương xót Chúa chỉ giới hạn trong việc tha thứ hoặc chữa lành bệnh trên thân xác. Lòng thương xót Chúa thể hiện cách tuyệt hảo nhất trong việc chữa lành căn bệnh thiêng liêng để chúng ta đến với Chúa và đến với nhau trong sự chân thành, cảm thông và tha thứ. Một người nói rằng ‘tôi là người sùng kính và cổ võ lòng thương xót Chúa và tôi đã cảm nghiệm được lòng thương xót của Ngài mà còn nghĩ xấu, nói xấu, gây chia rẽ và nhất là còn giữ hận thù, ghen ghét người khác trong lòng thì là một kẽ nói dối! Sự yếu đuối của con người luôn gặp với lòng Chúa thương xót, và khi đã gặp rồi, con người trở nên can đảm để sống yêu thương và hiệp nhất với người khác để làm việc tốt hầu làm chứng cho người khác về lòng thương xót của Chúa.

Trong bài đọc 2, Thánh Phêrô trình bày việc Chúa tỏ lòng thương xót với chúng ta qua việc làm cho chúng ta được trở nên những người được thừa hưởng kho tàng ở trên trời qua Đức Giêsu Kitô: “Chúc tụng Thiên Chúa là Thân Phụ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta! Do lượng hải hà, Người cho chúng ta được tái sinh để nhận lãnh niềm hy vọng sống động, nhờ Đức Giêsu Kitô đã từ cõi chết sống lại, để được hưởng gia tài không thể hư hoại, không thể vẩn đục và tàn phai. Gia tài này dành ở trên trời cho anh em, là những người, nhờ lòng tin, được Thiên Chúa quyền năng gìn giữ, hầu được hưởng ơn cứu độ Người đã dành sẵn, và sẽ bày tỏ ra trong thời sau hết” (1 Pr 1:3-5). Tuy nhiên, để hưởng được gia tài quý báu này, đức tin của chúng ta phải được thanh luyện qua những thử thách và đau khổ (x. 1 Pr 1:6-7). Một trong những thử thách quan trọng nhất là việc chúng ta giữ được sự trung thành trong đức tin và tình yêu của mình dù chúng ta không thấy Chúa: “Tuy không thấy Người, anh em vẫn yêu mến, tuy chưa được giáp mặt mà lòng vẫn kính tin. Vì vậy, anh em được chan chứa một niềm vui khôn tả, rực rỡ vinh quang, bởi đã nhận được thành quả của đức tin, là ơn cứu độ con người” (1 Pr 1:8-9). Chúng ta thường nghe rằng: “Xa mặt thì cách lòng.” Trong trường hợp này ít ra chúng ta chỉ xa người mà chúng ta quen biết thôi chứ chúng ta cũng đã thấy người đó. Trong trường hợp đức tin, chúng ta không thấy Chúa với con mắt thể lý của mình. Nhưng chúng ta vẫn yêu vì chúng ta cảm nghiệm được Ngài rất gần với chúng ta chứ không có “xa mặt.” Lòng thương xót của Chúa thể hiện ở việc luôn luôn ở gần chúng ta và ban cho chúng ta những điều tốt đẹp nhất để chúng ta tăng trưởng trong tình bác ái. Về phía chúng ta, chúng ta cần mở lòng ra trước mọi biến cố của cuộc sống, nhất là trong những giây phút đau khổ và đứng vững trong đức tin và tình yêu.

Lòng thương xót của Thiên Chúa được biểu lộ cách trọn vẹn nơi Chúa Giêsu. Chúng ta thấy rõ điều này nơi thái độ của Chúa Giêsu dành cho các môn đệ và nhất là với Tôma được trình bày trong bài Tin Mừng hôm nay. Chúng ta thấy bài Tin Mừng hôm nay được chia ra ba phần: (1) Chúa Giêsu hiện ra với các môn đệ; (2) Chúa Giêsu hiện ra với Tôma; (3) mục đích của Tin Mừng. Trong phần đầu, chúng ta thấy Thánh Gioan sử dụng câu chuyện truyền thống của Chúa Giêsu hiện ra cho các môn đệ ở Giêrusalem để chỉ ra rằng những lời hứa về việc Chúa Giêsu trở lại sẽ được hoàn thành trong ‘giờ’ Chúa Giêsu được tôn vinh. Chi tiết đầu tiên chúng ta có thể suy gẫm là món qua đầu tiên của Chúa Giêsu Phục Sinh cho các môn đệ: “Vào chiều ngày thứ nhất trong tuần, nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do Thái. Đức Giêsu đến, đứng giữa các ông và nói: “Bình an cho anh em!” (Ga 20:19). Thánh Gioan đã thêm vào câu chuyện chi tiết các môn đệ sợ người Do Thái để giới thiệu câu chuyện. Những chi tiết khác như việc Chúa Giêsu bất ngờ hiện ra giữa các ông và chúc các ông được bình an thì được tìm thấy trong truyền thống (x. Lc 24:36). Trong chi tiết đầu tiên này, Thánh Gioan chỉ cho thấy không có gì có thể so sánh với món quà “bình an” giữa những lo lắng và sợ hãi của cuộc sống. Chỉ có món quà bình an mới có thể giúp cho họ nhìn thấy ý nghĩa của những gì đã xảy ra trong cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu. Đây chính là món quà mà Chúa Giêsu cũng ban cho mỗi người chúng ta trong những giây phút đau buồn. Chỉ có như thế, chúng ta mới hiểu hết được ý nghĩa của những đau khổ mình phải chịu. Điều này được Thánh Gioan trình bày qua việc Chúa Giêsu cho các môn đệ xem các vết thương của Ngài. Với món quà bình an, xem xong các “môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa” (Ga 20:20). Thật vậy, Chúa Giêsu muốn cho các môn đệ biết rằng Đấng Phục Sinh cũng chính là Đấng Chịu Đóng Đinh. Điều này cũng là một phần của truyền thống (x. Lc 24:39). Nhưng trong bối cảnh của Tin Mừng Thánh Gioan, chi tiết này nhằm mục đích trả lời cho câu hỏi: “Họ đã để Ngài ở đâu?” “Họ” [người Do Thái] đã không để thân thể Chúa Giêsu ở đâu cả. Thân thể Ngài được đưa vào trong vinh quang thiên đàng của Chúa Giêsu Phục Sinh. Điều này mang lại niềm vui cho các môn đệ. Niềm vui của các môn đệ là sự hoàn thành của lời hứa mà Chúa Giêsu đã nói, niềm vui của họ sẻ được canh tân và nên trọn vẹn (x. Ga 14:27).

Trong phần 1, chúng ta cũng nghe về việc chúa Giêsu sai các môn đệ đi để mang sứ điệp tha thứ đến cho mọi người: “Người lại nói với các ông: ‘Bình an cho anh em! Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em.’ Nói xong, Người thổi hơi vào các ông và bảo: ‘Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ’” (Ga 20:21-23). Để trở thành người được sai đi mang sứ điệp tha thứ, các môn đệ cần món quà bình an qua sự hiện diện của Thánh Thần. Bình an là một món quà được hứa ban cho các môn đệ (x. Ga 14:27). Theo các học giả Kinh Thánh, sự sai đi trong Tin Mừng Thánh Gioan có thể được áp dụng cho toàn bộ cộng đoàn những người tin chứ không chỉ một nhóm cụ thể nào trong cộng đoàn, ví dụ như nhóm Mười Hai. “Quyền” tha thứ có thể được diễn tả qua việc trao ban Thánh Thần trên những ai tin như là kết quả của sứ vụ của các môn đệ và những ai gia nhập cộng đoàn hơn là quyền để đối xử với những thành viên phạm tội trong cộng đoàn. Chi tiết này cho thấy, chỉ những người có sự bình an của Chúa Phục Sinh mới trở nên khí cụ hữu hiệu để mang ơn tha thứ đến cho người khác. Nói cách cụ thể hơn, chỉ những người cảm nghiệm được sự bình an đến từ sự hiện diện của Thánh Thần, Đấng thánh hoá và tha thứ mọi tội lỗi của họ, mới có thể hiểu được ý nghĩa của sự tha thứ và như thế trở nên nhân chứng của sự tha thứ.

Phần 2 trình bày cho chúng ta hành trình cá vị hoá đức tin của mỗi người qua hình ảnh của Tôma. Nhiều người trong chúng ta sống theo số đông: ai làm gì, tôi làm đó; ai tin gì, tôi tin đó mà không biết cá vị hoá đức tin của mình. Nói cách khác, một người có đức tin vững mạnh là người biến những gì “chúng tôi tin” [những điều Giáo Hội tin] thành những gì “tôi tin” [niềm tin cá vị của tôi mà qua đó Chúa đến gặp tôi và tôi gặp Chúa]. Chúng ta thấy Tôma không dễ dàng tin những điều các môn đệ khác nói: “Các môn đệ khác nói với ông: ‘Chúng tôi đã được thấy Chúa!’ Ông Tôma đáp: ‘Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin’” (Ga 20:25). Chúng ta thường cho rằng Thánh Tôma là ông thánh nghi ngờ. Không phải vậy! Hình trình đức tin của Thánh Tôma là hành trình đức tin của mỗi người chúng ta. Nhất là trong Tin Mừng của mình, qua hình ảnh Thánh Tôma, Thánh Gioan muốn tóm kết là những đặc điểm chính trong hành trình đức tin mà thánh sử đã trình bày qua nhiều hình ảnh trong Tin Mừng. Hành trình đức tin này bao gồm những đặc tính sau: (1) Lời mời gọi trở thành người tin để đón nhận món quà bình an: “Rồi Người bảo ông Tôma: ‘Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin’” (Ga 20:27); (2) Thánh Tôma tuyên xưng đức tin: “Ông Tôma thưa Người: ‘Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!’” (Ga 20:28); (3) và phúc lành cho những ai qua ông mà tin: Đức Giêsu bảo: “Vì đã thấy Thầy, nên anh tin. Phúc thay những người không thấy mà tin!’” (Ga 20:29). Tóm lại, hành trình đức tin bao gồm: lời mời gọi – tuyên xưng – sai đi làm chứng nhân. Như vậy, đức tin không phải là một cái gì chết, nhưng là một động lực sống động hay đúng hơn là sức mạnh làm cho chúng ta trở nên những chứng nhân của bình an và sự tha thứ mà Chúa Giêsu Phục Sinh đã mang lại cho chúng ta.

Bài Tin Mừng kết thúc với việc trình bày mục đích của Tin Mừng: “Đức Giêsu đã làm nhiều dấu lạ khác nữa trước mặt các môn đệ; nhưng những dấu lạ đó không được ghi chép trong sách này. Còn những điều đã được chép ở đây là để anh em tin rằng Đức Giêsu là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa, và để nhờ tin mà được sự sống nhờ danh Người” (Ga 20:30-31). Những lời này giống với những lời trong Ga 21:24-25 và 1 Ga 5:13. Theo các học giả Kinh Thánh, những lời trên được xem như là phần kết thúc của Tin Mừng trước khi nó được thêm vào chương 21. Mục đích của Tin Mừng là viết lại những “dấu lạ” Chúa Giêsu đã thực hiện. Nhưng những dấu lạ này đưa người xem đến đức tin vào Chúa Giêsu như là Đấng Kitô và là Con Thiên Chúa. Đức tin này chính là suối nguồn của sự sống đời đời (x. Ga 3:15-16:36). Trong bối cảnh Tin Mừng Thánh Gioan, việc Chúa Giêsu Phục Sinh có thể được hiểu là “dấu lạ” cuối cùng trong tương quan của Ngài với Chúa Cha, mặc dù thánh sử dường như giới hạn những dấu lạ vào các phép lạ được thuật lại trong phần đầu của Tin Mừng như lời chứng của Chúa Giêsu trước thế gian rằng Ngài là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống. Chi tiết này nhắc nhở chúng ta rằng lời Chúa chứa đựng thức ăn nuôi dưỡng đức tin chúng ta vào Đức Kitô, đồng thời mang lại cho chúng ta sự sống đời đời. Đây chính là mục đích tối hậu của lòng thương xót Chúa dành cho mỗi người chúng ta.

Lm. Antôn Nguyễn Ngọc Dũng, SDB