Suy Niệm Lời Chúa – Thứ Sáu Tuần X Thường Niên – Lễ Thánh Tâm Chúa Giê-su – Suối Nguồn Tình Yêu Và Tha Thứ

(Đnl 7:6-11; 1 Ga 4:7-16; Mt 11:25-30)

Hôm nay, chúng ta cùng với Giáo Hội mừng Lễ Thánh Tâm Chúa Giêsu. Trong đời sống thường ngày, người ta thường lấy trái tim làm biểu tượng của tình yêu. Theo cách nhìn bình dân này, khi mừng lễ Thánh Tâm Chúa Giêsu, chúng ta được mời gọi chiêm ngưỡng tình yêu của Ngài. Đây là một tình yêu tuyệt đối, vô điều kiện. Tình yêu này phản ánh cách chân thật nhất tình yêu của Thiên Chúa dành cho con người. Chúng ta có thể nói rằng, nơi Thánh Tâm Chúa Giêsu, chúng ta tìm thấy một tình yêu mạc khải cách trọn vẹn Thiên Chúa là ai: “Thiên Chúa là tình yêu” (1 Ga 4:8,16). Chúng ta cùng nhau để lời Chúa hướng dẫn chúng ta trong việc khám phá tình yêu Thiên Chúa và đem ra sống trong đời sống thường ngày của mình.

Bài đọc 1 hôm nay trình bày cho chúng ta những lời Môsê nói với dân Israel về giao ước Thiên Chúa đã ký kết với họ. Trong giao ước đó, Môsê đã chỉ cho dân Israel biết chính tình yêu tuyệt đối của Thiên Chúa đã làm cho họ xứng đáng với giao ước, chứ không phải công trạng của họ. Chúng ta có thể thấy những đặc điểm sau trong tình yêu giao ước của Thiên Chúa dành cho dân Israel: (1) Tình yêu của Thiên Chúa là vô điều kiện. Động lực Ngài chọn Israel là vì Ngài yêu: “Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em đã chọn anh em từ giữa muôn dân trên mặt đất, làm một dân thuộc quyền sở hữu của Người. Đức Chúa đã đem lòng quyến luyến và chọn anh em, không phải vì anh em đông hơn mọi dân, thật ra anh em là dân nhỏ nhất trong các dân. Nhưng chính là vì yêu thương anh em, và để giữ lời thề hứa với cha ông anh em, mà Đức Chúa đã ra tay uy quyền đưa anh em ra và giải thoát anh em khỏi cảnh nô lệ, khỏi tay Pharaô, vua Aicập” (Đnl 7:6-8). Tình yêu là “bản tính” của Ngài. (2) Tình yêu của Thiên Chúa là một tình yêu trung thành cho đến muôn đời: Anh em phải biết rằng Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, thật là Thiên Chúa, là Thiên Chúa trung thành: cho đến muôn ngàn thế hệ, Người vẫn giữ giao ước và tình thương đối với những ai yêu mến Người và giữ các mệnh lệnh của Người” (Đnl 7:9). Đây chính là hai yếu tố quan trọng trong tình yêu Thiên Chúa mà mỗi khi đến với Thánh Tâm Chúa Giêsu chúng ta chiêm ngưỡng và học đòi bắt chước.

Nếu chúng ta lưu ý cấu trúc của đoạn trích, chúng ta nhận ra hai câu mở đầu và kết thúc nói về căn tính và bổn phận của dân Israel trong tương quan giao ước với Thiên Chúa. Bổn phận đối với Thiên Chúa tuôn chảy từ chính căn tính “là một dân thánh hiến cho Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em” (Đnl 7:6). Vì là dân thánh hiến cho Thiên Chúa, nên dân Israel “phải tuân giữ các mệnh lệnh, thánh chỉ, quyết định mà hôm nay tôi truyền cho anh em đem ra thực hành” (Đnl 7:11). Được thánh hiến cho Thiên Chúa trong ngày rửa tội [canh tân trong ngày khấn dòng], chúng ta cũng được mời gọi chu toàn bổn phận của mình là tuân giữ những mệnh lệnh, thánh chỉ, quyết định của Thiên Chúa [đối với người tu sĩ là tuân giữ hiến luật (hiến chương) và quy tắc (nội quy) của dòng]. Chúng ta phải sống đúng với căn tính của mình.

Trong bài đọc 2, Tháng Gioan cho biết suối nguồn của tình yêu là Thiên Chúa. Điều kiện để biết một người được sinh ra và biết Thiên Chúa chính là đời sống yêu thương: “Phàm ai yêu thương, thì đã được Thiên Chúa sinh ra, và người ấy biết Thiên Chúa. Ai không yêu thương, thì không biết Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là tình yêu” (1 Ga 4:7-8). Trong những lời này, chúng ta có được định nghĩa về Thiên Chúa là ai. Vì Thiên Chúa là tình yêu, nên mọi sự Ngài thực hiện đều phát xuất từ tình yêu. Người sống yêu thương luôn đi bước trước: “Tình yêu cốt ở điều này: không phải chúng ta đã yêu mến Thiên Chúa, nhưng chính Người đã yêu thương chúng ta, và sai Con của Người đến làm của lễ đền tội cho chúng ta” (1 Ga 4:10). Thật vậy, Thiên Chúa luôn đi bước trước để hoà giải chúng ta với Ngài. Chỉ khi chúng ta cảm nghiệm được tình yêu của Thiên Chúa cách cá vị, chúng ta mới nhận ra rằng mình được mời gọi yêu thương anh chị em mình như Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta: “Anh em thân mến, nếu Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta như thế, chúng ta cũng phải yêu thương nhau” (1 Ga 4:11). Chính qua tình yêu chúng ta dành cho nhau mà chúng ta biết chúng ta đang ở lại trong Thiên Chúa và Thiên Chúa ở lại trong chúng ta: “Thiên Chúa là tình yêu: ai ở lại trong tình yêu thì ở lại trong Thiên Chúa, và Thiên Chúa ở lại trong người ấy” (1 Ga 4:16). Như vậy, trong khi cử hành lễ Thánh Tâm Chúa Giêsu, chúng ta được nhắc nhở về đời sống yêu thương của mình. Một mặt, chúng ta được mời gọi đến với Thiên Chúa, suối nguồn tình yêu. Mặt khác, chúng ta phải ý thức rằng chúng ta phải sống yêu thương, vì chúng ta đã được yêu thương trước.

Bài Tin Mừng hôm nay trình bày cho chúng ta tiếng kêu của niềm vui và lời mời gọi của Đấng Cứu Độ. trình thuật Tin Mừng bao gồm một câu chuyện mang tính mạc khải mà trong đó Chúa Giêsu xuất hiện như người mạc khải về sự khôn ngoan của Thiên Chúa. Theo cấu trúc, chúng ta có thể chia trình thuật ra làm ba phần: (1) lời tạ ơn về mạc khải (Mt 11:25-26); (2) nội dung của mạc khải (Mt 11:27); (3) lời mời gọi đến với mạc khải (Mt 11:28-30). Theo các học giả Kinh Thánh, cấu trúc này giống với cấu trúc trong sách Sirắc 51:1-12,13-22,23-30, nhưng chỉ có 51:23-30 thật sự gần với Mt 11:28-30.

Trong lời tạ ơn về mạc khải, Chúa Giêsu đã nói: “Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết mầu nhiệm Nước Trời, nhưng lại mạc khải cho những người bé mọn. Vâng, lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha” (Mt 11:25-26). Những lời mở đầu [Lạy Cha là Chúa Tể trời đất] là công thức chúc lành đặc trưng của người Do Thái. Nhưng Chúa Giêsu thêm lời gọi thân tình Abba – Cha vào trong công thức để cho thấy mối tương quan mật thiết giữa Ngài và Thiên Chúa của Israel. Trong lời tạ ơn này, Chúa Giêsu chỉ ra lý do của tạ ơn, đó là “mạc khải mầu nhiệm nước trời cho những người bé mọn.” Chúng ta tự hỏi, tại sao Chúa Cha lại giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết mầu nhiệm Nước Trời? Đây là lối nói tượng hình ám chỉ sự kiêu ngạo của những bậc khôn ngoan thông thái theo tiêu chuẩn con người. Họ cho rằng mình biết hết mọi sự. Nhưng mầu nhiệm nước trời chỉ được mạc khải cho những người đơn sơ, không học hành. Điều đẹp ý Thiên Chúa là vén mở mầu nhiệm Nước Trời cho những người được xem là bị loại ra ngoài. Đây là quyết định của Thiên Chúa để chọn một số người đến với ơn cứu độ. Chi tiết này cho thấy, mạc khải về tình yêu và ơn cứu độ là quyết định theo ước muốn của Thiên Chúa chứ không theo ước muốn con người.

Nội dung của mạc khải chính là Chúa Cha và không ai có thể đến được với Chúa Cha nếu Chúa Con không mạc khải cho: “Cha tôi đã giao phó mọi sự cho tôi. Và không ai biết rõ người Con, trừ Chúa Cha; cũng như không ai biết rõ Chúa Cha, trừ người Con và kẻ mà người Con muốn mạc khải cho” (Mt 11:27). Trong những lời này, Chúa Giêsu khẳng định Ngài là “truyền thống cá vị của Thiên Chúa.” Nói cách khác, Ngài là “lời mạc khải tuyệt đối” về Thiên Chúa. Trong những lời trên Chúa Giêsu công bố Ngài chính là con đường “độc nhất vô nhị” để đến với Chúa Cha. Ngài chính là lối đi duy nhất để đạt đến sự hiểu biết và tình yêu của Chúa Cha. Bên cạnh đó, trong câu khẳng định của mình, Chúa Giêsu cũng cho thấy sự hiểu biết và tình yêu hỗ tương giữa Ngài với Chúa Cha. Ngài chính là mạc khải duy duy nhất về Chúa Cha (x. Mt 1:23; 28:18; Ga 3:35; 10:15; 13:3). Khi đến với Thánh Tâm Chúa Giêsu, chúng ta được mời gọi gắn bó với Chúa Giêsu, vì chỉ nơi Ngài chúng ta mới biết và cảm nghiệm cách cụ thể tình yêu của Thiên Chúa dành cho chúng ta.

Những lời mời gọi đến với mạc khải của Chúa Giêsu thật nhẹ nhàng, êm ái: “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. Anh em hãy mang lấy ách của tôi và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng. Vì ách tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng” (Mt 11:28-30). Trong những lời này, Chúa Giêsu nói như Sự Khôn Ngoan được cá vị hoá (x. Cn 8), với những đặc tính của người nữ như là người mang lại sự nghỉ ngơi và bồi dưỡng. Lời mời gọi của Ngài dành cho hết mọi người. Ngài mời gọi họ đến với Ngài để mang lấy ách của Ngài. Theo các học giả Kinh Thánh, các rabbi nói về cái ách của Luật [Torah] và cái ách của vương quốc [bị đô hộ]. Ở đây, cái ách của Chúa Giêsu ám chỉ lời giải thích luật của Ngài. Người môn đệ không chỉ mang lấy ách của Chúa Giêsu, nhưng còn học ở nơi Ngài. Chúa Giêsu, Đấng khiêm nhường và hiền lành, vừa là thầy dạy vừa là khuôn mẫu của các môn đệ vì Ngài chính là Luật được cá vị hoá. Là những người môn đệ của Chúa Giêsu, chúng ta đã học ở nơi Ngài sự khiêm nhường và hiền lành trong lời ăn tiếng nói, trong cách cư xử của mình với anh chị em của mình chưa? Nếu chưa, hãy bắt đầu từ hôm nay!

Lm. Antôn Nguyễn Ngọc Dũng, SDB