
(Pl 1:1-11; Lc 14:1-6)
Hôm nay chúng ta bắt đầu nghe các bài đọc 1 từ thư của Thánh Phaolô tông đồ gởi tín hữu Philipphê. Sau lời chào mở đầu như những thư khác, Thánh Phaolô nói về tâm tình của mình trong tương quan với các tín hữu Philipphê. Chúng ta có thể nhận ra những tâm tình sau: (1) tâm tình tạ ơn Thiên Chúa mỗi khi nghĩ đến họ (1:3); (2) tâm tình vui sướng trong cầu nguyện vì họ đã góp phần vào việc rao giảng Tin Mừng (1:4-5); (3) tâm tình vững tin vào Thiên Chúa Đấng tiếp tục công việc tốt đẹp mà Ngài khởi sự nơi họ (1:6); (4) tâm tình quý mến mọi người với tình thương của Đức Kitô Giêsu (1:8). Trong đời sống thường ngày, chúng ta cũng có những người được Thiên Chúa gởi đến để sống và làm việc chung với chúng ta. Chúng ta có những tâm tình như Thánh Phaolô mỗi khi nghĩ đến hay gặp họ?
Ngoài những tâm tình trên, bài đọc 1 còn thuật lại cho chúng ta điều Thánh Phaolô khẩn khoản nài xin Thiên Chúa cho các tín hữu Philipphê, đó là “cho lòng mến của anh em ngày thêm dồi dào, khiến anh em được ơn hiểu biết và tài trực giác siêu nhiên, để nhận ra cái gì là tốt hơn. Tôi cũng xin cho anh em được nên tinh tuyền và không làm gì đáng trách, trong khi chờ đợi ngày Đức Kitô quang lâm” (1:9-10). Đọc những lời này, chúng ta cũng tự vấn lại lời cầu xin của mình mỗi khi chúng ta đến với Đức Kitô. Chúng ta có xin Ngài cho tình yêu chúng ta dành cho Chúa và cho nhau tăng trưởng mỗi ngày không? Chúng ta có xin Ngài giúp chúng ta nhận ra những điều tốt để làm và nhất là giữ tâm hồn chúng ta khỏi những điều đáng trách cho đến khi Ngài đến trong vinh quang không? Hơn nữa, Thánh Phaolô cầu xin cho họ những điều trên với mục đích là để họ “sẽ đem lại hoa trái dồi dào là sống một đời công chính nhờ Đức Giêsu Kitô, để tôn vinh và ngợi khen Thiên Chúa” (1:11). Những lời này nhắc nhở chúng ta về mục đích sống của mình. Nhiều người trong chúng ta mong ước được có nhiều “hoa trái” trong đời sống vật chất hay trong tương quan với con người mà nhiều khi bỏ quên việc phải sinh hoa trái trong đời sống thiêng liêng, trong tương quan với Thiên Chúa. Cuộc sống có hoa trái đẹp trong đời sống thiêng liêng là cuộc sống luôn hát khúc ca tạ ơn, ngợi khen và tôn vinh Thiên Chúa vì tình yêu của Ngài tồn tại đến muôn đời.
Bài Tin Mừng hôm nay thuật lại cho chúng ta một sự kiện khác về việc Chúa Giêsu chữa bệnh trong ngày sabát. Câu chuyện này rất đặc trưng của Thánh Luca. Lần này việc chữa lành xảy ra trong nhà một thủ lãnh nhóm Pharisêu: “Một ngày sabát kia, Đức Giêsu đến nhà một ông thủ lãnh nhóm Pharisêu để dùng bữa: họ cố dò xét Người” (Lc 14:1). Trong những lời này chúng ta thấy mục đích mời Chúa Giêsu đến dùng bữa là để dò xét người. Thái độ dò xét này cũng là thái độ chúng ta thường có với anh chị em mình. Nhiều khi chúng ta dò xét bắt lỗi từng lời nói, từng cử chỉ, từng hành động của anh chị em mình để lên án. Cuộc sống sẽ nhẹ nhàng hơn khi chúng ta tìm niềm vui nơi sự hiện diện của anh chị em mình hơn là để ý dò xét và bắt lỗi người khác. Một bữa ăn ngon là bữa ăn với con tim rộng mở và tiếng cười chân thật chứ không phải với ánh mắt dò xét và thái độ lên án.
Chi tiết đáng để chúng ta lưu ý là sự hiện diện của người phù thũng trong bữa cơm: “Và kìa trước mặt Đức Giêsu, có một người mắc bệnh phù thũng” (Lc 14:2). Sự hiện diện của người phù thũng trong bữa tiệc là câu trả lời cho những vấn đề đang xảy ra trong cộng đoàn Thánh Luca đang phải đối diện với những người Pharisêu, đó là họ có nên ngồi đồng bàn với những người ô uế hay không (x. Lc 7:36-50); điều gì làm một người thanh sạch (x. 11:37-54); ai được mời đến ngồi chung bàn với người Kitô hữu (x. Lc 14:1-24). Một cách cụ thể, sự hiện diện của nguời mắc bệnh phù thũng ám chỉ việc mở rộng vòng tay đón nhận tất cả mọi người vào trong bàn tiệc của người Kitô hữu. Điều làm chúng ta được thanh sạch hay tôn vinh không phải là mình ngồi bàn với ai, nhưng là sự hiện diện của Chúa Giêsu trong bàn tiệc. Chính Chúa Giêsu là Đấng làm cho chúng ta thanh sạch và liên kết chúng ta lại trong tình yêu. Liệu chúng ta có để cho Chúa Giêsu ngồi bàn khi chúng ta mời anh chị em mình đến dùng bữa với chúng ta không?
Trong bữa tiệc này không chỉ có người mắc bệnh phù thũng mà còn cả những nhà thông luật và những người Pharisêu. Chúa Giêsu hỏi họ: “Có được phép chữa bệnh ngày sabát hay không?” (Lc 14:3). Là những người biết luật rất rõ, nhưng trước câu hỏi của Chúa Giêsu, “họ làm thinh.” Chúng ta biết chắc là các nhà thông luật biết luật rất chắc, nhưng họ làm thinh có thể vì họ chưa đọc thấy điều này trong sách luật vì họ chỉ lưu tâm đến những việc không được phép làm trong ngày sabát mà không hiểu ý nghĩa đằng sau những điều cấm này. Việc thinh lặng của họ chỉ cho thấy chỉ mình Chúa Giêsu mới biết được ý nghĩa đích thực của ngày sabát, ý nghĩa đích thực nằm sau những điều cấm không được thực hiện, đó là để chúng ta có được tâm tình tạ ơn về những ơn lành chúng ta đã nhận được [trong tuần] và chia sẻ những ơn lành đó cho anh chị em mình. Nói cách khác, ngày sabát là để làm điều thiện, để giải phóng khỏi nô lệ Xatan: “Người đỡ lấy bệnh nhân, chữa khỏi và cho về.” Chúa Giêsu khẳng định điều này trong câu hỏi: “Ai trong các ông có đứa con trai hoặc có con bò sa xuống giếng, lại không kéo nó lên ngay, dù là ngày sabát?” (Lc 14:5). Chi tiết này ám chỉ đến việc Chúa Giêsu là Chúa của ngày sabát. Và một lần nữa họ lặng thinh vì “không thể đáp lại những lời đó” (Lc 14:6). Đến đây, họ lặng thinh có thể bây giờ họ mới hiểu được ý nghĩa đích thật của ngày sabát. Chúng ta thế nào? Chúng ta sử dụng ngày sabát (Chúa Nhật) để làm việc tốt, để nghĩ tốt, nói tốt cho anh chị em mình hay chúng ta sử dụng những giờ rảnh (vì kiêng việc xác!) để nghĩ xấu, nói xấu và làm những điều tổn thương anh chị em mình?
Lm. Antôn Nguyễn Ngọc Dũng, SDB
