Mến tặng Chị Giuse- Anna Hiện Trần Thị Hiện
Có dịp được đi lên Khe Sanh vùng Hướng Phùng với rẫy cà phê của chị em Mến Thánh Giá Huế, một trải nghiệm…
Một kỷ niệm Lớn của Khe Sanh: Trong những ngày vừa qua (24-26/10/2026) là Kỷ niệm 100 năm cà phê Khe Sanh (1926–2026) đánh dấu một thế kỷ cây cà phê bén rễ, vượt qua bom đạn chiến tranh và trở thành thương hiệu nông sản đặc sản của vùng đất Quảng Trị. Thật sự là một vinh hạnh, là niềm tự hào cho người dân Khe Sanh với tiếng thơm hạt Cà phê Hướng Phùng nổi tiếng.

Nguồn gốc lịch sử: Năm 1926: Nhà thực vật học người Pháp Eugène Poilane đã đưa những cây cà phê đầu tiên đến gieo trồng tại vùng đất Khe Sanh (huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị). Mặc dầu qua bao thăng trầm lịch sử, chiến tranh và biến động thị trường, cây cà phê (đặc biệt là Arabica và giống quý Liberica) vẫn kiên cường bám rễ trên đất bazan màu mỡ, trở thành sinh kế cốt lõi của hàng nghìn hộ dân của vùng đất này.
Riêng Hội dòng Mến Thánh Huế (1962- 2026), trên 52 năm đã có một kỷ niệm sâu sắc và thân yêu ở đây.
Vào năm 1962, sau khi hai chị Matta Lê Thị Luyến và chị Madalena Nguyễn Thị Thiều đi Kon Tum về, các chị đã được bề trên sai phái lên vùng Tà Cơn – một thung lũng thuộc Khe Sanh, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị. Sứ mạng của các chị khi lên Khe Sanh là để truyền giáo và phục vụ đồng bào sắc tộc nơi đây. Lúc ấy, Khe Sanh là vùng cao nguyên màu mỡ mà người Pháp trước đó đã khảo sát, đưa cây cà phê vào trồng thử nghiệm.
Các chị đặt chân lên Khe Sanh vào những năm tháng hòa bình, tĩnh lặng. Trước đó, tại đây đã có dấu chân truyền giáo của Cha Nguyễn Văn Ấn và tiếp theo là Cha Thừa sai Poncet. Thông qua tổ chức Caritas Huế, các chị lặn lội đi vào tận các bản làng để phát thuốc, có chị Maria Cúc may áo quần giúp đỡ người nghèo, Chị Maria Pha lên thay Bà Luyến đi Nhà Tập (lớp 1968-1969). Giữa vùng đất hiểm trở và thưa thớt bóng người, cuộc sống của các chị nhận được sự đồng cảm lớn. Cảm mến tấm lòng và công việc của các chị, ông Philip người Pháp đã đón các chị về ở gần khu vực đồn điền của ông. Không những thế, ông còn nhượng lại cho các chị 4 mẫu đất để làm nơi sinh hoạt và canh tác. Tại đây, các chị đã trồng được 1 ha cà phê. Thế nhưng, khi vườn cây chưa kịp cho quả ngọt, khi mùa thu hoạch đầu tiên còn dang dở… thì bão táp chiến tranh đã ập đến và san phẳng tất cả. Đến năm 1968, Khe Sanh trở thành tâm điểm khốc liệt của chiến sự. Giữa làn bom đạn, các chị phải tất tả bỏ lại tất cả để chạy về Phước viện Mến Thánh Giá Trí Bưu, rồi cùng chị em nương náu trong dòng người di tản.
Sau năm 1975, khi đất nước hoàn toàn thống nhất, vùng đất Khe Sanh, Tà-Cơn đổ nát năm nào dần dần có sự sống, trổ sinh những mầm xanh mới của hòa bình. Những người con của mảnh đất Quảng Trị, Thừa Thiên Huế nối gót nhau lên Khe Sanh xây dựng vùng kinh tế mới.
Trải qua bao gian khổ, nhọc nhằn, trong những giọt mồ hôi ướt đẫm lưng áo trên nông trường, người dân kiên cường bám đất, chịu khó canh tác. Từng bước một, Khe Sanh, Tà Cơn, Hướng Phùng, A Dơi… đã rũ bỏ hoàn toàn tro tàn đổ nát của bom đạn xưa kia để khoác lên mình màu xanh bạt ngàn của sự sống. Những hố bom xưa nay nhường chỗ cho các nông trường trù phú, những đồi cà phê Arabica (cà phê chè) đặc sản thơm nồng của vùng cao nguyên đất đỏ. Thấp thoáng giữa màu xanh của vườn tược là những cánh đồng điện gió hiện đại, những dự án năng lượng mới đang vươn mình dựng xây kinh tế và du lịch. Nơi đây đã thực sự trở thành một biểu tượng của sự hàn gắn, một sự kết hợp hài hòa đầy diệu kỳ giữa thiên nhiên bình yên hôm nay và một lịch sử hào hùng, kiên trung ngày trước.
Chiến tranh lùi xa, dẫu thời gian có làm mờ đi nhiều dấu tích, nhưng tình yêu và sứ mạng phục vụ của các chị em Mến Thánh Giá Huế với mảnh đất Khe Sanh thì chưa bao giờ tắt. Sau nửa thế kỷ, những bước chân âm thầm của các chị lại một lần nữa tìm về.
Như một mối duyên lành nối tiếp lịch sử, cách đây khoảng 6, 7 năm, Chị Giuse – Anna Trần Thị Hiện được sự cho phép của Bề trên Dòng Mến Thánh Giá Huế, đã đón nhận một dự án lên lại Hướng Phùng (Khe Sanh, Quảng Trị) mua đất canh tác. Mục đích của dự án không chỉ là tạo nguồn sinh lợi cho Nhà dòng, mà sâu xa hơn là tạo công ăn việc làm cho đồng bào sắc tộc nơi đây, và giúp con em của họ có thêm điều kiện để đến trường tìm con chữ.

Và thế là, Chị đã dấn thân vào hành trình ấy. Chị mua lại 1,2 rẫy cà phê người ta mới trồng, có một căn nhà tạm làm nơi che mưa che nắng giữa những tháng ngày nơi nương rẫy… Sau 3 năm đằng đẵng kiên trì, những cây cà phê đầu tiên bắt đầu cho trái bói. Để có được thành quả đó, Chị đã phải tự mình học hỏi thêm kinh nghiệm từ những người đi trước. Trồng cây cà phê cũng như chăm nuôi một đứa con mọn, phải chăm bẵm từng chút một: từ bón phân, tỉa chồi, làm cỏ, đến phun thuốc diệt sâu bệnh, diệt trùng. Những đêm sương muối đậm đặc tràn về phá hoại vườn cây, Chị lại phải liệu bề tưới tẩm để cứu từng mầm non.
Đó là sự tỉ mẩn trong từng cái bấm tay, nâng niu từng cành cây, nâng lên đặt xuống, chỉ chọn hái những quả chín đỏ mọng như quả cherry thì ly cà phê mới đạt được vị chua thanh, ngọt hậu đúng chất đặc sản. Rồi theo thời tiết, Chị luôn phải “trông trời, trông đất, trông mây”. Đầu năm thì canh thời tiết khô ráo để xiết nước, ép cây phân hóa mầm ra hoa; cuối năm lại thon thót lo âu những trận bão gió khốc liệt của miền Trung quật gãy cành, làm rụng đi thành quả cả năm trời dày công chăm bón. Những ngày lội vườn cắt cành tăm, vạch từng chiếc lá tìm đốm nấm rỉ sắt, hay lách mũi dao tìm từng cái lỗ sâu đục thân để cứu cây… đó là lúc Chị đau đáu chăm bẵm vườn cà phê của mình. Chăm cà phê không chỉ là làm nông nghiệp thuần túy, mà giống như đang nuôi nấng một đứa trẻ nhạy cảm, cần rất nhiều sự kiên nhẫn và tình yêu thương đối với cây.

Trời chẳng phụ công người, những năm gần đây giá cà phê liên tục tăng cao, việc làm rẫy không còn bị thua lỗ. Đặc biệt, cà phê Arabica Hướng Phùng (Khe Sanh) ngày nay đã khẳng định được thương hiệu nhất nhì Việt Nam. Khi được đứng giữa vườn cà phê của Chị Anna Hiện ở Hướng Phùng đúng vào mùa thu hoạch, chúng tôi mới hiểu hết cái tình mà Chị đã gửi gắm vào đất. Hạt cà phê ấy không chỉ thấm đẫm sương mờ Khe Sanh, mà còn thấm cả những giọt mồ hôi và lòng kiên nhẫn và lời cầu nguyện của Chị.
Trồng được cây cà phê đã khó, nuôi được nó ra trái chín đỏ mọng lại càng cần một tinh thần vững chãi. Tôi thực sự khâm phục cái cách Chị nâng niu từng chùm hoa trắng muốt bung nở đầu xuân, rồi lại thon thót lo âu mỗi mùa quả chín. Chị em chúng tôi từ Huế có dịp lên rẫy hái cà phê cùng Chị, nhưng thú thật, vừa bước vào vườn thì cũng rất vui nhưng cũng một phen “kinh hồn bạt vía” vì sợ lũ vắt rẫy, không biết khi nào thì nó bắn vào người, khiến các chị em phải bọc kín mít từ đầu đến chân bằng đồ ni-lông, mặc áo quần bảo hộ kín cổng cao tường chẳng khác nào các y tá trong mùa dịch Covid. Hình ảnh ấy vừa thương, vừa tội, nhưng cũng rất buồn cười!
Thế mới biết, chúng tôi chỉ lên trải nghiệm một vài ngày mà đã khốn đốn như thế, thì làm sao hiểu hết được những vất vả, nhọc lao và sự kiên nhẫn đợi chờ suốt bốn mùa mưa nắng của Chị Anna Hiện. Chị đã âm thầm chịu đựng tất cả để đợi chờ từng ngày, từng tháng trong âu lo cho rẫy cà phê của mình được đơm hoa, ra trái…
Chúng tôi cũng bắt đầu làm quen với xóm giềng lân cận trong tình người, có người đến làm việc với chúng tôi (hái cà phê), có người giúp chúng tôi chuyển cà phê đến nơi thu mua, vì chị em sức yếu không thể lái xe honda trên đoạn đường chông chênh nhỏ hẹp từ trên rẫy về nhà…Họ những người có lòng tốt phụ giúp chúng tôi. Và chúng tôi đã sống rất chan hòa với những người anh chị em và chia sẻ những gì có thể trong nghĩa tình anh em.

Và rồi niềm vui trọn vẹn đã đến: Người đã trao tình yêu vào nương rẫy, Trời đã ban cho hạt quả ngọt lành, và Đất mẹ đã kết tinh nên hương vị đậm đà. Trên hết, chúng tôi đã sốt sắng đọc kinh sớm tối trước bàn thờ Ba Đấng, rất gần gũi Chúa và gần nhau; những bữa cơm thanh đạm nhưng chan hòa niềm vui, tiếng cười. Lao động đem đến sự mệt nhọc nhưng chúng tôi hết lòng tri ân Thiên Chúa, biết ơn đất trời giữa màu xanh bao la của rừng núi và mùi thơm của đất Mẹ chở che.
Nt. Maria Nguyễn Thị Tuyệt – HD.MTG Huế
