![]() |
| Francesco Francia, Public domain, via Wikimedia Commons |
Khoảnh khắc đầu tiên chúng ta gặp gỡ Đức Maria trong Tin Mừng là khi Mẹ được thiên thần Gabriel viếng thăm ở Nazareth, nơi ngài loan báo rằng Mẹ sẽ thụ thai và sinh ra Con Thiên Chúa Nhập Thể cho thế gian. Cuối cùng, lời đáp của Mẹ là: “Này, tôi là tôi tớ Chúa; xin hãy thực hiện cho con theo lời ngài.” (Lc 1:26-38) Lời đáp này được gọi là “xin vâng” (fiat), tiếng Latinh nghĩa là “xin hãy thực hiện.”
Lời nói này là lời “xin vâng” nổi tiếng nhất trong cuộc đời Mẹ, vì rất ít lời nói của Đức Maria được ghi lại trong Tin Mừng. Tuy nhiên, vẫn còn những khoảnh khắc khác trong suốt cuộc đời Mẹ, trong suốt thời gian Chúa Giêsu thi hành sứ vụ công khai và Mầu nhiệm Vượt qua, khi sự hiện diện hoặc phản ứng của Mẹ hàm ý sự chấp nhận đầy tin tưởng vào thánh ý Thiên Chúa – đó cũng một lời “xin vâng.” Việc xem xét những khoảnh khắc “xin vâng” này có thể giúp chúng ta tìm thấy sự khiêm nhường và can đảm để thốt lên những lời “xin vâng” của riêng mình, để học cách đặt mình vào việc phụng sự Chúa, ngay cả khi ý tưởng về sự phó thác có thể làm chúng ta sợ hãi.
Lời “xin vâng” âm thầm đầu tiên diễn ra ngay sau biến cố truyền tin, trước khi Chúa Giêsu được sinh ra. Khi Đức Maria mang thai ở giai đoạn cuối, Mẹ được lệnh của hoàng đế Rôma phải cùng chồng là Thánh Giuse đến Bêlem. Mẹ cảm thấy không thoải mái, thậm chí có lẽ hơi lo lắng (điều này là hoàn toàn tự nhiên). Bất cứ ai từng đi cùng một người phụ nữ mang thai ở giai đoạn cuối đều biết rằng điều đó không dễ dàng hay thuận tiện đối với cô ấy. Tương tự, khi đến Bêlem, các ngài không tìm được chỗ trọ thích hợp, có lẽ vì các ngài không được gia đình Giuse chào đón. Cuối cùng, Mẹ được cho một chuồng gia súc để sinh con và lấy lại sức. Chắc chắn, đây là những khoảnh khắc quan trọng khi Mẹ phải cầu nguyện một lần nữa, “Xin hãy thực hiện cho tôi theo lời ngài.” Đây cũng là một lời “xin vâng.”
Sau khi Chúa Giêsu giáng sinh, Đức Maria và Thánh Giuse đã dâng Người trong Đền thờ, “theo Luật Môsê” (Lc 2:22-38). Lúc ấy, Simêon, người “công chính và sùng đạo”, tuyên bố rằng Hài Nhi này sẽ là “dấu hiệu mà người đời sẽ không nhìn nhận” (c.34, bản dịch Knox); và rằng mẹ Người cũng sẽ bị một lưỡi gươm đâm thấu con tim (c.35). Người mẹ nào lại không đau lòng trước ý nghĩ con mình bị chối bỏ, và trước viễn cảnh đau khổ của chính mình vì sự chối bỏ đó? Tuy nhiên, Đức Maria biết rằng Mẹ chỉ là người chăm sóc Hài Nhi này, và sự hoàn tất ý định của Người sẽ bao gồm cả nỗi đau buồn và khổ sở. Đó cũng là một lời “xin vâng.”
Nỗi đau buồn và khổ sở đó vốn đã được nhận biết vào biến cố các vị đạo sĩ từ những đế quốc phương Đông mang lễ vật đến cho Đấng Mêsia mới sinh (Mt 2:11). Vàng chắc chắn sẽ rất tốt, và nhũ hương có lẽ sẽ che đi mùi hôi của chuồng gia súc. Nhưng mộc dược, một loại dầu dùng để xức cho người bệnh hoặc người chết? Làm sao điều này có thể liên quan đến Con Thiên Chúa mới sinh được? Đức Maria chắc hẳn đã nhận ra, hoặc lại phải chấp nhận, vào thời điểm này rằng Con Thiên Chúa được sinh ra để chịu đau khổ và chết. Đây là cơ hội để Mẹ đón nhận thánh ý Thiên Chúa, kế hoạch của Người, với lòng tin tưởng phi thường. Đây cũng là một lời “xin vâng.”
Một tình huống khác không lâu sau chuyến viếng thăm của các nhà đạo sĩ có thể dẫn đến sự nản lòng hoặc sợ hãi. Thánh Giuse nói với Đức Maria rằng ngài đã được cảnh báo trong giấc mơ về việc tính mạng của Hài Nhi đang gặp nguy hiểm. Vì vậy, gia đình trẻ này phải đi đến Ai Cập, một vùng đất xa lạ cách đó một khoảng cách khá xa (ít nhất khoảng 350 dặm – hơn 563 km), trong một khoảng thời gian không xác định (Mt 2:13). Chúng ta có thể cảm nhận được rằng việc vượt qua sa mạc và thiết lập một nơi ở tạm thời, trong khi lo lắng rằng Con Trai mình sẽ bị giết bởi một vị vua độc ác, sẽ là một thử thách ngay cả đối với người mẹ khiêm nhường và tin tưởng nhất. Đó cũng là một lời “xin vâng.”
Nhiều năm sau, Đức Maria và Thánh Giuse đưa Chúa Giêsu trở lại Giêrusalem để dự lễ quan trọng nhất của người Do Thái, Lễ Vượt Qua (Lc 2:41-50). Sau dịp lễ này, các ngài lạc mất Chúa Giêsu trong ba ngày. Thật dễ dàng để hình dung rằng Đức Maria vẫn luôn cầu nguyện trong suốt thời gian đó để thánh ý Thiên Chúa, những lời của Người, sẽ được tỏ hiện nơi đây. Nhưng khi tìm thấy Chúa Giêsu tại Đền thờ, “các ngài không hiểu lời mà [Chúa Giêsu] nói với mình.” (c.50) Mặc dù không hoàn toàn hiểu tại sao vị Chúa trẻ tuổi lại hành động hay nói năng như vậy, nhưng khi sống ở Nazareth, Đức Maria vẫn “ghi nhớ tất cả những điều ấy trong lòng,” suy ngẫm về ý nghĩa của chúng (c.51, bản dịch Knox). Đây hẳn là thời điểm Đức Maria nhận ra rằng Mẹ sẽ không bao giờ có thể vượt qua vực sâu vô tận giữa sự hiểu biết của mình và đường lối của Thiên Chúa nếu không có sự chủ động và giúp đỡ của Người. Đây cũng là một lời “xin vâng.”
Gần hai thập kỷ sau, khi là một thanh niên độ ba mươi tuổi, Chúa Giêsu chờ đợi sự chủ động của Đức Maria để bắt đầu sứ mệnh công khai của Người. Tại một tiệc cưới ở Cana (Ga 2:1-5), Đức Maria chỉ ra cho Chúa Giêsu rằng tiệc đã hết rượu. Nếu Chúa Giêsu đồng ý giúp đỡ cặp vợ chồng đang gặp khó khăn đó, thì việc này sẽ báo hiệu sự khởi đầu cho sứ mệnh công khai của Người. Trong câu hỏi của Chúa Giêsu dành cho Đức Maria, Mẹ biết rằng “mối quan hệ của Mẹ với Người từ nay sẽ thay đổi,” như Chân phước Fulton Sheen đã viết. Sau khi Người “bắt đầu công trình cứu chuộc, Đức Maria sẽ không chỉ là Mẹ của Người, mà còn là Mẹ của tất cả anh chị em loài người mà Người sẽ cứu chuộc” (Cuộc đời của Chúa Kitô, 2008, 90). Bất kỳ người mẹ đầy yêu thương nào có lẽ cũng phải vật lộn để vượt qua mong muốn ích kỷ của chính mình là giữ đứa con yêu dấu bên cạnh, bảo vệ con khỏi những khó khăn và khắc nghiệt của cuộc sống cũng như công việc hàng ngày. Đó cũng là một lời “xin vâng.”
Một số khó khăn và khắc nghiệt đó đã xuất hiện trong khi Chúa Giêsu thực hiện sứ mệnh công khai của mình. Tại xứ Galilêa, người ta chắc chắn đã biết đến Đức Maria và nhận xét về cách Con Trai của Mẹ đang thách thức nền văn hóa Do Thái đương thời. Tuy nhiên, sự can thiệp của Mẹ tại Cana đồng nghĩa với việc Mẹ phải chấp nhận bước tiến triển này. Có một khoảnh khắc, khi Chúa Giêsu đang giảng dạy, một số người trong đám đông thông báo rằng Mẹ của Người và những anh em họ hàng khác đang ở ngoài nhà chờ gặp Người. Chúa Giêsu đáp rằng: “Ai thi hành ý muốn của Thiên Chúa, người ấy là anh em, chị em và mẹ của Tôi” (Mc 3:31-34). Trong bối cảnh văn hóa Do Thái cổ đại, điều này có thể được hiểu là sự từ chối mối liên kết gia đình thiêng liêng nhất, đó là mối liên kết giữa mẹ và con. Tuy nhiên, Đức Maria biết rằng Mẹ chỉ được mời gọi trở thành một công cụ và một người chăm sóc. Đây cũng là một lời “xin vâng.”
Sau đó, cũng tại xứ Galilêa, Chúa Giêsu giảng dạy trong một hội đường vào ngày Sabbath. Cộng đồng “đã phẫn nộ với Người.” Hơn nữa, Kinh Thánh cho chúng ta biết rằng “Người không thể làm phép lạ nào ở đó… vì sự không tin của họ.” (Mc 6:1-6) Chắc chắn, Đức Maria đã nhận ra và ủng hộ sứ mệnh rao giảng ơn cứu độ của Chúa Giêsu. Vì vậy, khoảnh khắc bị từ chối này cần được đón nhận bằng niềm tin rằng ý muốn và dự định của Thiên Chúa có một tầm nhìn trọn vẹn hơn về cách thức hoàn thành ơn cứu độ của thế giới. Sau khoảnh khắc đó, Đức Maria phải tin rằng mục đích của Thiên Chúa không thể bị cản trở. Đó cũng là một lời “xin vâng.”
Cuối cùng, tại nhiều thời điểm trong Mầu nhiệm Vượt qua, Đức Maria đã mở lòng và hiến dâng chính mình một lần nữa với tư cách là “nữ tì của Chúa.” Khi biết tin Chúa Giêsu bị kết án tử hình, Mẹ hẳn đã bị cám dỗ muốn giành quyền kiểm soát và làm bất cứ điều gì có thể để giải thoát Người. Sự chấp nhận ý muốn của Chúa Cha trong khoảnh khắc này, cũng như trong tất cả các khoảnh khắc trước đó, hoàn toàn giống với lời cầu nguyện của Chúa Giêsu trong Vườn Cây Dầu: “Xin đừng theo ý Con, nhưng xin cho [ý Cha] nên trọn.” (Lc 22:42) Sau đó cùng ngày, khi Chúa Giêsu đang treo trên thập giá, Chúa đã trao môn đệ yêu dấu vào sự chăm sóc đầy tình mẫu tử của Đức Maria: “Này là con bà.” Từ lúc đó, Đức Maria đã đến sống với một người con trai mới, được nhận làm con nuôi về mặt tinh thần (Ga 19:26-27). Cuối cùng, khi các tông đồ và các môn đệ khác chờ đợi Chúa Thánh Thần đã được hứa ban tại Giêrusalem, Đức Maria đã cùng các ngài tham gia vào tuần cửu nhật đầu tiên. Những khoảnh khắc này đã củng cố vai trò của Đức Maria là Mẹ của Giáo hội, người có thể bảo vệ và nuôi dưỡng tất cả các môn đệ trong nỗ lực mở rộng sứ mệnh cứu độ của Chúa Giêsu. Ngay cả khi thấy kế hoạch của Thiên Chúa được hoàn thành, Đức Maria càng hiểu rõ hơn rằng Mẹ có thể phục vụ theo một cách đặc biệt. Đây cũng là một lời “xin vâng.”
Việc suy ngẫm về những khoảnh khắc và hành động này, về những cảm xúc và chuyển động mà Đức Maria có lẽ đã trải qua, cho phép chúng ta kết nối với Mẹ ở một mức độ sâu sắc hơn, điều mà Chúa Giêsu mong muốn. Sau tất cả, Chúa Giêsu đã nói với môn đệ yêu dấu của mình, người là biểu tượng cho mỗi chúng ta, “Này là mẹ con!” Việc làm sâu sắc thêm mối tương quan của chúng ta với Mẹ sẽ cho phép chúng ta chấp nhận trong tâm tình tin tưởng phó thác nơi những gì Chúa gởi đến cho chúng ta vào những thời điểm khác nhau trong cuộc đời, dù là quan trọng hay bình thường. Đó chính là một lời “xin vâng.”
Tác giả: Derek Rotty – Nguồn: Catholic Exchange (23/5/2025)
Chuyển ngữ: Lm. Phil. M. Nguyễn Hoàng Nguyên
Nguồn: giaophanvinhlong.net

