
(1 Sm 16:1b.6-7.10-13a; Ep 5:8-14; Ga 9:1-41)
Trong bài hát “Đôi Mắt” của Xuân Hồng, chúng ta tìm thấy những lời sau: “Mẹ cho em đôi mắt sáng ngời, để nhìn đời và để làm duyên. Đời cho em đôi mắt màu đen, để thương để nhớ, để ghen để hờn. Đôi mắt em là cửa sổ tâm hồn. Là bài thơ hay nhất, là lời ca không dứt, là tuyệt tác của thiên thu.” Đôi mắt thường đi đôi với ánh sáng. Nói cách cụ thể hơn, đôi mắt cần ánh sáng để nhìn thấy. Có hai loại mắt: mắt thể lý và mắt con tim [mắt đức tin hay mắt linh hồn], nên cần có hai loại ánh sáng: ánh sáng tự nhiên và ánh sáng siêu nhiên. Con mắt thể lý cần ánh sáng tự nhiên, nhưng chỉ nhìn thấy được vẻ bề ngoài của một người hay sự vật. Con mắt linh hồn cần ánh sáng siêu nhiên và có thể nhìn thấy được tâm hồn của người khác. Con mắt thể lý để nhìn thấy anh chị em mình, con mắt đức tin để nhìn thấy Chúa trong anh chị em mình. Chỉ những ai có được cặp mắt như thế mới có thể sống trọn vẹn cho Chúa và cho anh chị em mình. Đây chính là đề tài chính của lời Chúa hôm nay.
Bài đọc 1 thuật lại cho chúng ta câu chuyện về việc Đavít được Samuen xức dầu tấn phong làm vua. Trong trình thuật này, chúng ta được trình bày về sự khác biệt giữa hai cái nhìn: cái nhìn vẻ bề ngoài của Samuen và cái nhìn thấu tâm can của Thiên Chúa: “Khi ông Giesê và các con trai ông đến, ông Samuen thấy Êliáp, ông nghĩ: ‘Đúng rồi! Người Đức Chúa xức dầu tấn phong đang ở trước mặt Đức Chúa đây!’ Nhưng Đức Chúa phán với ông Samuen: ‘Đừng xét theo hình dáng và vóc người cao lớn của nó, vì Ta đã gạt bỏ nó. Thiên Chúa không nhìn theo kiểu người phàm: người phàm chỉ thấy điều mắt thấy, còn Đức Chúa thì thấy tận đáy lòng’” (1 Sm 16:6-7). Những lời này mời gọi chúng ta nhìn lại cách thức mình nhìn và nhận xét anh chị em. Với con mắt thể lý, chúng ta chỉ có thể thấy được vẻ bề ngoài chứ không thể nhìn thấy những gì đang xảy ra bên trong của anh chị em. Có câu nói trong đời rằng: Nếu con mắt thể lý của bạn nhìn một người mà làm cho bạn không thích hoặc ghét người đó, bạn hãy đóng con mắt thể lý lại và nhìn với con mắt con tim, bạn sẽ thấy mình bắt đầu cảm thông và yêu thương người đó. Về điều này, lời Chúa trong bài đọc 1 mời gọi chúng ta hãy học ở Đức Chúa. Ngài không theo vẻ bề ngoài để xét đoán, nhưng nhìn vào cõi lòng.
Trong bài đọc 2, Thánh Phaolô nhắc nhở các tín hữu Êphêsô về đời sống trong Chúa, trong ánh sáng mà họ đã lãnh nhận. Thánh Phaolô nêu cho họ tiêu chuẩn để biết sống như con cái sự sáng sẽ như thế nào: “Vậy anh em hãy ăn ở như con cái ánh sáng; mà ánh sáng đem lại tất cả những gì là lương thiện, công chính và chân thật. Anh em hãy xem điều gì đẹp lòng Chúa. Đừng cộng tác vào những việc vô ích của con cái bóng tối, phải vạch trần những việc ấy ra mới đúng. Vì những việc chúng làm lén lút, thì nói đến đã là nhục rồi” (Ep 5:8-12). Một trong những điều quan trọng mà Thánh Phaolô chỉ ra để cho biết mình có sống trong ánh sáng hay không là sống đời sống lương thiện, công chính và chân thật. Đây là lối sống đẹp lòng Thiên Chúa và đây cũng là lối sống cần thiết cho thời đại ngày hôm nay. Bên cạnh đó, Thánh Phaolô mời gọi các tín hữu đang còn ngủ mê hoặc sống trong chốn tử vong của tội lỗi hãy trỗi dậy vì Đức Kitô chiếu sáng trên họ (x. Ep 5:14). Với ánh sáng của Đức Kitô, chúng ta sẽ bước đi trong đường lối của Thiên Chúa như câu chuyện anh mù được tường thuật trong Tin Mừng hôm nay.
Bài Tin Mừng hôm nay đưa chủ đề ánh mắt và ánh sáng trong bài đọc 1 đến cực điểm qua câu chuyện Chúa Giêsu chữa người mù từ thuở mới sinh. Để hiểu ý nghĩa của câu chuyện, điều chúng ta cần làm là xem xét cấu trúc của bài Tin Mừng. Bài Tin Mừng được sắp xếp theo lối nghệ thuật kịch Hy Lạp và có cấu trúc như sau: Chữa lành người mù từ thuở mới sinh (9:1-12), những người Pharisêu chất vấn người mù đã được chữa lành và người mù làm chứng Chúa Giêsu là một ngôn sứ (9:13-17), người Do Thái chất vấn bố mẹ của người mù và họ sợ bị đuổi ra khỏi hội đường (9:18-23), cuộc tra khảo người mù lần thứ hai và đuổi anh ta ra khỏi hội đường (9:24-34), người mù tuyên xưng Chúa Giêsu là Con Người (9:35-38), sự đui mù của những người Pharisêu (9:39-41). Chúng ta cùng nhau rút ra những bài học từ những điểm khác nhau được trình bày trong cấu trúc của bài Tin Mừng.
Trình thuật Tin Mừng bắt đầu với sự kiện chữa lành người mù từ thuở mới sinh. Chúng ta thấy câu chuyện này tìm thấy sự tương đồng với câu chuyện được trình thuật trong Tin Mừng Nhất Lãm, nhưng được kể cách chi tiết hơn. Động lực để Chúa Giêsu chữa người mù là “để thiên hạ nhìn thấy công trình của Thiên Chúa được tỏ hiện nơi anh. Chúng ta phải thực hiện công trình của Đấng đã sai Thầy, khi trời còn sáng; đêm đến, không ai có thể làm việc được. Bao lâu Thầy còn ở thế gian, Thầy là ánh sáng thế gian” (Ga 9:3-4). Trong những lời này, Chúa Giêsu khẳng định Ngài là ánh sáng thế gian. Tất cả những gì Ngài thực hiện là đem vinh danh cho Thiên Chúa vì những việc Ngài thực hiện là thánh ý của Thiên Chúa. Chi tiết này mời gọi chúng ta nhìn lại đời sống Kitô hữu của mình. Chúng ta có mang lại vinh quang cho Thiên Chúa qua việc làm của mình hay không hay chúng ta đang đi tìm vinh quang cho chính mình?
Vì Ngài là ánh sáng thế gian, nên những ai đến với Ngài, để Ngài chạm vào sẽ được chữa lành như anh mù: “Đức Giêsu nhổ nước miếng xuống đất, trộn thành bùn và xức vào mắt người mù, rồi bảo anh ta: ‘Anh hãy đến hồ Silôác mà rửa’ (Silôác có nghĩa là: người được sai phái). Vậy anh ta đến rửa ở hồ, và khi về thì nhìn thấy được” (Ga 9:6-7). Điểm đáng lưu ý trong phần này Chúa Giêsu muốn sự cộng tác của anh mù, đó là đi rửa ở hồ Silôác. Hình ảnh này ám chỉ đến bí tích rửa tội mà chúng ta đã lãnh nhận. Sau khi được rửa sạch khỏi tội lỗi, chúng ta sẽ được nhìn thấy và sống trong ánh sáng của ân sủng. Sau khi được chữa lành, điều đầu tiên người mù nhận ra đó là anh biết chính xác Chúa Giêsu là người chữa lành mình, dù không biết Ngài ở đâu: “Người tên là Giêsu đã trộn một chút bùn, xức vào mắt tôi, rồi bảo: ‘Anh hãy đến hồ Silôác mà rửa.’ Tôi đã đi, đã rửa và tôi nhìn thấy.’ Họ lại hỏi anh: ‘Ông ấy ở đâu?’ Anh ta đáp: ‘Tôi không biết’” (Ga 9:11-12). Chi tiết này nhắc nhở mỗi người chúng ta về việc nhận ra Chúa Giêsu đang đồng hành trong công việc hằng ngày. Ngài làm việc với và trong chúng ta, dù chúng ta không biết Ngài ở đâu. Chúng ta cần vun trồng sự nhạy cảm với sự hiện diện của Chúa Giêsu trong đời sống thường ngày.
Trong cuộc thẩm vấn người mù của người Pharisêu, điều đáng để chúng ta suy gẫm là thái độ dũng cảm của người mù làm chứng cho Chúa Giêsu: “Trong nhóm Pharisêu, người thì nói: ‘Ông ta không thể là người của Thiên Chúa được, vì không giữ ngày sabát’; kẻ thì bảo: ‘Một người tội lỗi sao có thể làm được những dấu lạ như vậy?’ Thế là họ đâm ra chia rẽ. Họ lại hỏi người mù: ‘Còn anh, anh nghĩ gì về người đã mở mắt cho anh?’ Anh đáp: ‘Người là một vị ngôn sứ!’” (Ga 9:16-17). Thái độ của anh mù nhắc nhở chúng ta về đời sống làm chứng của mình như những người Kitô hữu. Nhiều lần trong ngày sống, chúng ta không đủ can đảm để đứng về phía sự thật, nhất là khi đứng trước những quyền lực của con người. Chúng ta sợ con người hơn sợ Thiên Chúa. Anh mù đã cho chúng ta một tấm gương. Dù vẫn chưa rõ chân tính của Chúa Giêsu, nhưng với lòng trắc ẩn về những gì Chúa Giêsu đã làm cho mình, anh đã đặt trọn niềm tin vào Chúa Giêsu và làm chứng cho Ngài.
Trái với anh mù, bố mẹ của người mù vì sợ bị trục xuất mà không dám đứng về phía con mình để làm chứng cho Chúa Giêsu: “Chúng tôi biết nó là con chúng tôi, nó bị mù từ khi mới sinh. Còn bây giờ làm sao nó thấy được, chúng tôi không biết, hoặc có ai đã mở mắt cho nó, chúng tôi cũng chẳng hay. Xin các ông cứ hỏi nó; nó đã khôn lớn rồi, nó có thể tự khai được.’ Cha mẹ anh nói thế vì sợ người Do Thái” (Ga 9:21-22). Chúng ta nhìn thấy chính mình trong hình ảnh cha mẹ của anh mù. Vì một vài lợi ích, chúng ta đã không đủ can đảm để làm chứng cho Chúa Giêsu, để tỏ ra mình là những người Kitô hữu, những người thuộc về Thiên Chúa. Đừng vì lợi ích cá nhân mà bỏ Chúa và bỏ nhau.
Thêm một lần nữa, người mù làm chứng cho Chúa Giêsu dù phải chấp nhận bị trục xuất khỏi hội đường: “Kể cũng lạ thật! Các ông không biết ông ấy bởi đâu mà đến, thế mà ông ấy lại là người đã mở mắt tôi! Chúng ta biết: Thiên Chúa không nhậm lời những kẻ tội lỗi; còn ai kính sợ Thiên Chúa và làm theo ý của Người, thì Người nhậm lời kẻ ấy. Xưa nay chưa hề nghe nói có ai đã mở mắt cho người mù từ lúc mới sinh. Nếu không phải là người bởi Thiên Chúa mà đến, thì ông ta đã chẳng làm được gì” (Ga 9:30-33). Lần thứ hai, Thánh Gioan đặt trước mặt chúng ta hình ảnh người mù với lời làm chứng và tuyên xưng đức tin của anh trước những người có thể lực. Anh đã tuyên xưng Chúa Giêsu bởi Thiên Chúa mà đến, hay đúng hơn là Đấng được sai đến [đây chính là nghĩa của từ Silôác]. Anh đã sẵn sàng chấp nhận mọi thiệt thòi vì Chúa Giêsu. Còn chúng ta thì sao? Chúng ta có sẵn sàng hy sinh mọi sự vì Chúa Giêsu không?
Đỉnh cao của hành trình đức tin của anh mù là cuộc gặp gỡ diện đối diện với Chúa Giêsu sau khi anh được chữa lành. Anh tuyên xưng đức tin của mình vào Chúa Giêsu sau khi thấy kỳ công Ngài đã thực hiện cho mình. Chúa Giêsu không chỉ ban cho anh ánh sáng thể lý, nhưng còn ban cho anh ánh sáng đức tin: “Đức Giêsu nghe nói họ đã trục xuất anh. Khi gặp lại anh, Người hỏi: ‘Anh có tin vào Con Người không?’ Anh đáp: ‘Thưa Ngài, Đấng ấy là ai để tôi tin?” Đức Giêsu trả lời: ‘Anh đã thấy Người. Chính Người đang nói với anh đây.’ Anh nói: ‘Thưa Ngài, tôi tin.’ Rồi anh sấp mình xuống trước mặt Người” (Ga 9:35-38). Thái độ sấp mình thờ phượng là cử chỉ tôn thờ. Đức tin sẽ được diễn tả qua đời sống thờ phượng. Chúng ta chỉ biết chiều sâu của đức tin khi chúng ta diễn tả qua đời sống thờ phượng Thiên Chúa cách chân thành hay như lời của Chúa Giêsu là thờ phượng trong Thần Khí và sự thật.
Điểm cuối cùng là sự đui mù của những người Pharisêu như Chúa Giêsu khẳng định: “Những người Pharisêu đang ở đó với Đức Giêsu nghe vậy, liền lên tiếng: ‘Thế ra cả chúng tôi cũng đui mù hay sao?’ Đức Giêsu bảo họ: ‘Nếu các ông đui mù, thì các ông đã chẳng có tội. Nhưng giờ đây các ông nói rằng: ‘Chúng tôi thấy,’ nên tội các ông vẫn còn!” (Ga 9:40-41). Thái độ của những người Pharisêu khuyến cáo chúng ta về thái độ tự cao, cứng lòng tin và loại trừ của chúng ta. Nhiều lần, chúng ta cho mình nhìn thấy và anh chị em chúng ta đui mù, chúng ta thánh thiện còn anh chị em tội lỗi. Khi sống trong thái độ đó, chúng ta đang sống trong sự đui mù của đức tin, hy vọng và đức ái. Điều Chúa Giêsu mời gọi là chúng ta nhận ra sự đui mù của mình và chạy đến với Ngài để được chữa lành.
Lm. Antôn Nguyễn Ngọc Dũng, SDB
