Suy Niệm Lời Chúa – Chúa Nhật IV Thường Niên – Nỗ Lực Sống Thánh Thiện

(Xp 2:3; 3.12-13; 1 Cor 1:26-31; Mt 5:1-12a)

Ai trong chúng ta cũng muốn có được một cuộc sống sung túc, giàu sang. Không ai muốn sống trong nghèo đói túng thiếu. Tuy nhiên, điều này dường như trái ngược với những gì chúng ta nghe trong các bài đọc hôm nay, đó là việc người nghèo được chúc phúc. Trong bài đọc 1, Ngôn Sứ Xôphônia chỉ ra cho những “ai nghèo hèn trong xứ sở” phải biết tìm kiếm Thiên Chúa, sự công chính, đức khiêm nhường, chứ không tìm kiếm sự giàu sang (Xp 2:3). Chỉ có như thế họ mới tránh được ngày thịnh nộ của Đức Chúa. Những người sống theo lời mời gọi này được gọi là những “người nghèo của YHWH.” Họ là những người “tìm nương ẩn nơi danh của Đức Chúa, không làm chuyện tàn ác bất công, cũng không ăn gian nói dối và miệng lưỡi sẽ không còn phỉnh gạt” (Xp 3:21). Họ là những người sẽ được Thiên Chúa chăn dắt và cho nghỉ ngơi mà không còn bị ai làm cho khiếp sợ. Mong rằng đây cũng là điều mà mỗi người chúng ta đang tìm kiếm trong từng ngày sống.

Trong bài đọc 2 hôm nay Thánh Phaolô nói cho các tin hữu Côrintô về tình yêu nhưng không của Thiên Chúa khi kêu gọi những con người mỏng dòn yếu đuối chia sẻ trong kế hoạch yêu thương của Ngài. Thiên Chúa không kêu gọi những người thông thái khôn ngoan. Ngài kêu gọi những con người khiêm nhường thấp kém: “khi anh em được Chúa kêu gọi, thì trong anh em đâu có mấy kẻ khôn ngoan trước mặt người đời, đâu có mấy người quyền thế, mấy người quý phái” (1 Cr 1:26). Thiên Chúa thực hiện điều này để dạy chúng ta rằng: “Song những gì thế gian cho là điên dại, thì Thiên Chúa đã chọn để hạ nhục những kẻ khôn ngoan, và những gì thế gian cho là yếu kém, thì Thiên Chúa đã chọn để hạ nhục những kẻ hùng mạnh; những gì thế gian cho là hèn mạt không đáng kể, là không có, thì Thiên Chúa đã chọn để huỷ diệt những gì hiện có, hầu không một phàm nhân nào dám tự phụ trước mặt Người” (1 Cr 1:27-29). Những lời này nhắc nhở chúng ta rằng những giá trị mà Thiên Chúa xem là quan trọng khác với những giá trị của con người. Như vậy, dù trong cương vị nào và hoàn cảnh sống nào chúng ta cần phải bước đi khiêm nhu trong đường lối Ngài. Chúng ta không nên tự phụ với những gì mình đạt được.

Chi tiết thư hai trong bài đọc 1 đáng để chúng ta suy gẫm là việc Thánh Phaolô chỉ ra cho biết đâu là nguồn gốc của sự khôn ngoan. Theo thánh nhân sự khôn ngoan có nguồn gốc là Thiên Chúa và chính Đức Giêsu Kitô là sự khôn ngoan của chúng ta: “Phần anh em, chính nhờ Thiên Chúa mà anh em được hiện hữu trong Đức Kitô Giêsu, Đấng đã trở nên sự khôn ngoan của chúng ta, sự khôn ngoan phát xuất từ Thiên Chúa, Đấng đã làm cho anh em trở nên công chính, đã thánh hoá và cứu chuộc anh em, hợp như lời đã chép rằng: Ai tự hào thì hãy tự hào trong Chúa” (1 Cr 1:30-31). Những lời này khuyến cáo chúng ta ta rằng: chúng ta nhiều lần loay hoay đi tìm kiếm sự khôn ngoan của con người và khi kiếm được chúng ta tự hào về sự khôn ngoan chóng tàn đó, mà quên mất đâu là sự khôn ngoan vững bền. Sự khôn ngoan đích thật không phải là một mớ kiến thức, nhưng là một ngôi vị, đó là Đức Giêsu Kitô. Vì vậy, ai có Đức Kitô là có sự khôn ngoan đích thật và đây chính là điều đáng để chúng ta tự hào.

Bài Tin Mừng hôm nay bắt đầu trình thuật cho chúng ta về Bài Giảng Trên Núi của Chúa Giêsu. Đây là một trong năm bài giảng quan trọng trong Tin Mừng Thánh Gioan. Đây là tuyệt phẩm của Thánh Mátthêu và thường được trích dẫn. Đề tài chính trong Bài Giảng Trên núi là Nước Thiên Chúa và sự công bình. Nếu lưu ý, chúng ta sẽ nhận ra bài giảng được sắp xếp rất hệ thống, hợp lý và chứa đựng những lãnh vực quan trọng trong đời sống con người như luân lý và thiêng liêng như được hiểu trong dân Israel. Trong thực tế, nhiều người đã chỉ trích Bài Giảng Trên Núi vì nó đưa ra những tiêu chuẩn quá cao mà con người không thể hoàn thành. Về phần mình, Bài Giảng Trên Núi này có vị trí như thế nào trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta?

Điều đầu tiên chúng ta cần lưu ý là bài giảng này dành riêng cho các môn đệ của Chúa Giêsu: “Khi ấy, thấy đám đông, Đức Giêsu lên núi. Người ngồi xuống, các môn đệ đến gần bên” (Mt 5:1). Chúa Giêsu thấy đám đông, nhưng những người đến gần bên Chúa Giêsu là các môn đệ. Bài giảng này xảy ra trên núi. Như chúng ta biết, theo truyền thống Kinh Thánh, núi là nơi gặp gỡ Thiên Chúa, là nơi Thiên Chúa mặc khải chính mình và kế hoạch yêu thương của mình. Nhìn từ khía cạnh này, chúng ta thấy Bài Giảng Trên Núi mang tính mạc khải: mạc khải về ơn gọi cao trọng của người môn đệ Chúa Giêsu. Vì là một ơn gọi cao trọng, nên tiêu chuẩn sống ơn gọi đó cũng phải cao. Một số học giả Kinh Thánh cho rằng Bài Giảng Trên Núi trình bày Chúa Giêsu như là một Môsê mới. Như Môsê trao cho dân Israel Mười Điều Răn trên núi Sinai để hướng dẫn họ trong tương quan với Thiên Chúa và với nhau, thì Chúa Giêsu, trên núi Tám Mối Phúc Thật cũng ban cho “dân Israel mới” những tiêu chuẩn mới hầu kiện toàn mối tương quan của các môn đệ với Thiên Chúa và với nhau.

Khi so sánh hai bản văn trình thuật lại các mối phúc giữa Luca (Lc 6:20b-23) và Mátthêu, chúng ta thấy rằng Thánh Luca có bốn [3+1] mối phúc, trong khi đó Thánh Mátthêu có tám [7+1]. Có thể nói, chỉ có ba mối phúc trong Tin Mừng Thánh Luca là từ miệng Chúa Giêsu, còn mối phúc thứ tư đến từ Giáo Hội sơ khai. Còn các mối phúc được thêm vào trong Tin Mừng Thánh Mátthêu là chính sự mở rộng của thánh sử được gợi hứng từ các Thánh Vịnh. Xét về nguồn của bài giảng, nguồn chung là nguồn Q, và ngoài nguồn này ra Chúa Giêsu sử dụng lời từ ngôn sứ Isaia (61:1-4). Về hình thức, mỗi mối phúc là một lời công bố mang tính chúc mừng để công nhận một tình trạng hạnh phúc đang hiện hữu. Chúng ta cần lưu ý rằng, ở đây Thánh Mátthêu muốn bắt đầu Tin Mừng với tiếng kêu hạnh phúc, với niềm vui được đặt nền tảng trên sự gần gũi của Nước Thiên Chúa.

Ba mối phúc nguyên thuỷ về sự nghèo khó, sầu khổ và đói khát diễn tả sứ mệnh của Chúa Giêsu cho những người nghèo trong Israel và cũng là khởi điểm của một thời đại mới của lịch sử cứu độ. Cả ba mối phúc đều chỉ đến cùng một loại người. Ba mối phúc đầu tiên dành cho những người cô thế cô thân: “Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ. Phúc thay ai hiền lành, vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp. Phúc thay ai sầu khổ, vì họ sẽ được Thiên Chúa ủi an. (Mt 5:3-5). Những người nghèo, hiền lành và sầu khổ là những người hạnh phúc không phải đời sống luân lý của họ tốt hơn những người khác, nhưng bởi vì Thiên Chúa chăm sóc họ một cách đặc biệt. Thiên Chúa được xem như một vị vua và bổn phận của vua là bảo vệ những người cô thế cô thân. Trong Kinh Thánh, sự nghèo đói về kinh tế là một sự dữ cần sửa lại (x. Đnl 15:11), và sự giàu có không phải là sự dữ trong chính nó. Thật ra, sự giàu có là điều cần thiết cho sự hưng thịnh của một quốc gia, nhưng sự nguy hiểm của nó là bỏ quên Thiên Chúa và người nghèo. Điều ưu tiên hàng đầu của Thiên Chúa là chăm sóc cho người nghèo. Thuật ngữ “người hiền lành” được lấy từ Thánh Vịnh 37:11, có nghĩa là “chậm giận,” “hiền hoà với người khác.” Đây là một hình thức của đức ái. Còn những người sầu khổ [“than khóc”] là những người than khóc khi thấy sự dữ đang chiếm ngụ thế giới (nguyên thuỷ là than khóc cho những sự dữ đang hoành hành trong dân Israel).

Chúng ta thấy rõ ràng Thánh Mátthêu đã thêm vào những điều sau: (1) Thánh sử kể “sự công chính” trong câu 6 và câu 10. Cả hai câu chia đều trình thuật Tin Mừng và cũng là một đề tài lớn trong Tin Mừng; (2) thánh sử thêm “trong tinh thần” [tâm hồn] vào trong mối phúc của người nghèo. Người nghèo là những người bần cùng trong Israel, là những người mong ước được Thiên Chúa ban cho những điều cần thiết về vật chất. Sự nghèo khó của họ là thật và mang tính kinh tế, nhưng với bình diện thiêng liêng. Trong Tin Mừng Thánh Mátthêu, cụm từ được thêm vào “trong tinh thần” thay đổi điểm nhấn mạnh từ bình diện xã hội-kinh tế đến bình diện luân lý cá nhân: khiêm nhường, không dính bén với của cải vật chất một cách cố ý. Đây chính là thái độ mà Chúa Giêsu mời gọi chúng ta. Thật vậy, những người sống khiêm nhường và không dính bén với của cải vật chất sẽ dễ dàng để cho mình hoàn toàn lệ thuộc vào Chúa.

Mối phúc thương xót hàm chứa nhiều ý nghĩa: “Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương” (Mt 5:7). Mối phúc này ám chỉ việc tha thứ cho những người thân cận của mình (x. Mt 6:12;14-15; 18:35), yêu thương (x. Mt 9:13; 12:7; 23:23) [đặc biệt là những người cô thế cô thân (x. 25:31-46), ngay cả yêu thương kẻ thù (x. Mt 5:44-47)]. Mối phúc này loại trừ tất cả mọi hình thức trả thù. Mối phúc này mời gọi chúng ta vượt qua khuynh hướng tự nhiên, “răng đền răng, mắt đền mắt.” Chỉ những người cảm nếm được tình yêu thương tha thứ của Thiên Chúa cách chân thật mới có thể sống mối phục thương xót cách triệt để.

Mối phúc cho những người có tâm hồn trong sạch mang lại cho người được chúc phúc một phần thưởng cao quý, đó là được nhìn thấy Thiên Chúa: “Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa” (Mt 5:8). Trong Cựu Ước, tâm hồn trong sạch ám chỉ đến tâm hồn mà sự không trong sạch mang tính luân lý và nghi lễ được tẩy sạch (x. Tv 24:4; 51; Is 1:10-20). Trong Tin Mừng Thánh Mátthêu, tâm hồn trong sạch đứng rất gần với đức công chính, và bao gồm sự trung thành mang tính giao ước, trung thành với giới răn của Thiên Chúa, và tôn thờ Thiên Chúa cách chân thật.

Những người xây dựng hoà bình là những người được ban cho danh hiệu là con Thiên Chúa: “Phúc thay ai xây dựng hoà bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa” (Mt 5:9). Thuật ngữ này có nền tảng trên thuật ngữ Salom trong Cựu Ước. Đây là một ý niệm bao gồm nhiều ý nghĩa, ám chỉ đến sự hoàn thiện của một con người. Các rabbi đã tách thuật ngữ này khỏi ý tưởng của một vị vua lý tưởng là người xây dựng hoà bình trong Israel và áp dụng cho hết mọi người. Trong Tin Mừng Thánh Mátthêu, xây dựng hoà bình có liên hệ mật thiết với yêu thương người thân cận và như thế cũng liên quan chặt chẽ với mối phúc có lòng thương xót.

“Phúc thay ai khát khao nên người công chính, vì họ sẽ được Thiên Chúa cho thoả lòng” (Mt 5:6). Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ” (Mt 5:10). Hai mối phúc này nhắc nhở về khát vọng của chúng ta trong đời sống thường ngày. Khi chúng ta đặt hai mối phúc này lại với nhau, chúng ta thấy con đường để thoả lòng nên người công chính là con đường bách hại, tức là phải sẵn sàng hy sinh mọi sự vì Nước Trời. Chúng ta đang ước muốn điều gì? Hai mối phúc này nối kết với mối phúc dài cuối cùng về những người bị bách hại. Mối phúc này phản ánh kinh nghiệm tử đạo trong Giáo Hội tiên khởi và một cách nào đó mang tính chất Kitô học: “Phúc thay anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa. Anh em hãy vui mừng hớn hở, vì phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao” (Mt 5:11-12). Qua những lời này, chúng ta được nhắc nhở rằng chỉ khi chịu mọi sự vì danh Chúa Giêsu, thì chúng ta sẽ nhận được phần thưởng dành cho những ai trung tín với Ngài.

Tóm lại, trong các mối phúc, Thánh Mátthêu đã biến những biểu hiện trong thời đại của Đấng Messia thành một chương trình sống, một danh sách những phẩm chất hoặc nhân đức có thể mơ ước đến. Tất cả những phần thưởng sẽ được hoàn thành trong Nước Thiên Chúa. Hình thức “bị động” trong các phần thưởng là một sự bị động mang tính thần học: Thiên Chúa sẽ an ủi, ban tràn đầy, thương xót, gọi họ. Điều này cho thấy một nền cánh chung học mang tính tương lai ngự trị toàn bộ các mối phúc. Nó nối kết hiện tại với tương lai và làm cho chúng nên một trong từng giây phút sống của chúng ta.

Lm. Antôn Nguyễn Ngọc Dũng, SDB