
(Is 58:7-10; 1 Cor 2:1-5; Mt 5:13-16)
Bài đọc 1 hôm nay trình bày cho chúng ta về sấm ngôn của Đức Chúa nói với con cái Israel về thái độ của họ trong thời gian lưu đày. Đối diện với sự chèn ép, họ kêu trách Chúa là đã không lắng nghe họ. Họ đưa ra những lý do thật hợp lý (Is 58:2-3). Đứng trước sự giả hình của họ, Đức Chúa đã vạch ra cho họ thấy những thái độ không đúng khi họ thực hiện các việc đạo đức để kêu lên danh Ngài (Is 58:3-4). Đây không phải là cách ăn chay mà Đức Chúa ưa chuộng. Cách ăn chay mà Đức Chúa ưa chuộng là: “Mở xiềng xích bạo tàn, tháo gông cùm trói buộc, trả tự do cho người bị áp bức, đập tan mọi gông cùm; là chia cơm cho người đói, rước vào nhà những người nghèo không nơi trú ngụ; thấy ai mình trần thì cho áo che thân, không ngoảnh mặt làm ngơ trước người anh em cốt nhục” (Is 58:6-7). Khi họ làm được như vậy, thì “ánh sáng ngươi sẽ bừng lên như rạng đông, vết thương ngươi sẽ mau lành. Đức công chính ngươi sẽ mở đường phía trước, vinh quang Đức Chúa bao bọc phía sau ngươi” (Is 58:8). Qua những điều này, Đức Chúa chỉ ra lối sống mà Ngài ưa thích là thực thi luật yêu thương và không làm những điều bất công với anh chị em của mình. Đây là lời khuyến cáo cho mỗi người chúng ta vì chúng ta thường chú trọng đến vẻ bề ngoài của việc ăn chay mà quên đi tinh thần của việc ăn chay chính là yêu thương: Ai ăn chay mà không yêu thương anh chị em mình, thì đó không phải là ăn chay thật trước mặt Thiên Chúa. Ngôn sứ Isaia tiếp tục nói cho dân Israel lời sấm Đức Chúa về việc làm thế nào để lời kêu cầu của họ được nhận lời và ánh sáng ngươi sẽ chiếu toả trong bóng tối,
và tối tăm của ngươi chẳng khác nào chính ngọ, đó là, họ phải “loại khỏi nơi ngươi gông cùm, cử chỉ đe doạ và lời nói hại người, nếu ngươi nhường miếng ăn cho kẻ đói, làm thoả lòng người bị hạ nhục” (Is 58:9-10). Đây cũng chính là điều Đức Chúa mời gọi mỗi người chúng ta trong từng ngày sống. Ngài mời gọi chúng ta “loại bỏ” những gì là không hay không đẹp, để “mặc lấy” (hay thực hiện) những điều mang đầy tình bác ái và tha thứ.
Thánh Phaolô, trong bài đọc 2, trình bày cho các tín hữu Côrintô biết đâu là nội dung chính của sứ điệp Tin Mừng của Ngài. Sứ điệp Tin Mừng này không cần lời lẽ hùng hồn hoặc triết lý cao siêu để loan báo, nhưng cần đời sống khiêm nhường hoàn toàn tín thác và dễ dạy với Chúa Thánh Thần. Thánh Phaolô cũng chỉ rõ lý do tại sao sứ điệp này không cần dựa vào lời lẽ hùng hồn và triết lý cao siêu để loan báo, đó là để “đức tin của anh em mới không dựa vào lẽ khôn ngoan người phàm, nhưng dựa vào quyền năng Thiên Chúa” (1 Cr 2:5). Điều này nhắc nhở chúng ta về lối suy nghĩ thông thường của mình là phải nói hay, nói giỏi mới có thể thu hút người khác đến với Chúa. Nói hay nói giỏi là một món quà, nhưng điều đó có thể đưa chúng ta đến cám dỗ quy chiếu mọi thành công trong việc rao giảng về mình. Điều quan trọng trong việc rao giảng Tin Mừng là đời sống khiêm nhường, vì chỉ có khiêm nhường tự hạ chúng ta mới hiểu được mầu nhiệm của Thiên Chúa, mới hiểu được nội dung chính của sứ điệp Tin Mừng, đó là Đức Giêsu Kitô chịu đóng đinh chứ không phải một mớ kiến thức của con người: “Vì hồi còn ở giữa anh em, tôi đã không muốn biết đến chuyện gì khác ngoài Đức Giêsu Kitô, mà là Đức Giêsu Kitô chịu đóng đinh vào thập giá. Vì thế, khi đến với anh em, tôi thấy mình yếu kém, sợ sệt và run rẩy” (1 Cr 2:2-3). Mầu nhiệm thập giá là mầu nhiệm tự hạ [kenosis]. Sứ điệp Tin Mừng, sứ điệp yêu thương đạt đến đỉnh cao nơi hình ảnh Đức Kitô chịu đóng đinh: “Không có tình yêu nào cao cả hơn tình yêu của người hy sinh mạng sống vì bạn hữu mình” (Ga 15:13). Trên thập giá, tình yêu của Thiên Chúa được mạc khải cách trọn vẹn nhất. Để loan báo sứ điệp tình yêu này, chúng ta không cần lời nói hoa mỹ của con người, chúng ta chỉ cần đời sống yêu thương, khiêm nhường hoàn toàn tín thác vào Chúa.
Thánh Mátthêu đã lấy những câu nói từ Chúa Giêsu trong trình thuật Tin Mừng hôm nay (x. Mc 9:50; 4:21; Lc 8:16; 11:33; 14:34-35), sử dụng hình ảnh muối và ánh sáng, và áp dụng chúng cho thính giả của bài giảng. Trong thời gian đó, Pliny viết: “Không có gì hữu dụng cho bằng muối và ánh sáng.” Thánh Mátthêu nhấn mạnh đến việc gọi thính giả cách cá vị qua việc lặp đi lặp lại “anh em” và “của anh em.” Thật ra, Ngài nói với các môn đệ: mặc dù bị bách hại, anh [chị] em có một ơn gọi cho thế gian.
Điều đầu tiên là Chúa Giêsu dùng hình ảnh muối để ví các môn đệ của mình: “Chính anh em là muối cho đời. Nhưng muối mà nhạt đi, thì lấy gì muối nó cho mặn lại? Nó đã thành vô dụng, thì chỉ còn việc quăng ra ngoài cho người ta chà đạp thôi” (Mt 5:13). Theo nghĩa hẹp, muối không thể mất đi vị của mình và mãi mãi là muối. Nhưng trong Do Thái Giáo, muối có thể trở thành thứ không trong sạch và cần phải bị quăng ra ngoài. Muối vừa là một trong các gia vị làm cho thức ăn đậm đà, vừa là đồ bảo quản để cho thức ăn không bị hư thối. Vì vậy, muối là một vị thầy tuyệt vời. Lối diễn tả về định mệnh của muối sử dụng hình ảnh về sự phát xét của Thiên Chúa. Những chi tiết trên khuyến cáo chúng ta về lối sống của mình. Mỗi người chúng ta được mời gọi không chỉ làm cho cuộc sống thêm tươi đẹp mà còn bảo vệ cuộc sống tươi đẹp đó khỏi những tấn công của những lối sống đi ngược với Tin Mừng.
Hình ảnh thứ hai được Chúa Giêsu sử dụng để nói về ơn gọi của các môn đệ trong thế gian là ánh sáng: “Chính anh em là ánh sáng cho trần gian. Một thành xây trên núi không tài nào che giấu được. Cũng chẳng có ai thắp đèn rồi lại để dưới cái thùng, nhưng đặt trên đế, và đèn soi chiếu cho mọi người trong nhà. Cũng vậy, ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời” (Mt 5:14-16). Hình ảnh ánh sáng được áp dụng cho Thiên Chúa, cho Israel (x. Rom 2:19). Trong Tân Ước, ánh sáng được áp dụng cho Chúa Giêsu (x. Mt 4:16; Lc 1:79; 2:32; Phil 2:15; Eph 5:8). Hình ảnh “một thành xây trên núi” được lấy từ sách Ngôn sứ Isaia (2:2-5). Nếu đây là một thành miền núi thuộc Galilê được ám chỉ đến, đối tượng chính có thể là thành Hippos; còn không là Giêrusalem. Với niềm tin, các môn đệ sẽ không bỏ đi sứ vụ của mình trên thế gian. Hình ảnh “thắp đèn để trên đế” giả định ngôi nhà một phòng ở Palestine, một cây đèn dầu bằng đất, và một bàn ăn. Hình ảnh này ám chỉ việc các môn đệ không sống cho chính mình, nhưng cho người khác. Thánh Mátthêu viết phần kết luận lấy từ những yếu tố thánh sử lấy được từ truyền thống: “Hãy để cho ánh sáng của anh em chiếu sáng.” Câu này chứa đựng một hành động cân bằng giữa làm việc tốt và không được tự hào hoặc tìm kiếm danh lợi. Cuộc sống của người môn đệ được diễn tả trong phần còn lại của bài giảng không được dẫn đến tình trạng vô tri, nhưng mang lại sự sám hối của nhiều người trở về với “Thiên Chúa là Cha của anh em ở trên trời.” Đây chính là đặc tính của Chúa Giêsu khi Ngài gọi Thiên Chúa là Cha. Tóm lại, Chúa Giêsu mời gọi các môn đệ sống thật với bản chất của mình: Là người, là người công giáo, là người đời, là tu sĩ, là giáo sĩ. Mỗi người phải sống đúng, sống thật với ơn gọi của mình. Nếu không, chúng ta sẽ trở nên vô dụng trước mặt Chúa và có thể nói là trở thành trò cười trước mặt thiên hạ.
Lm. Antôn Nguyễn Ngọc Dũng, SDB
