
(Ml 3:1-4; Lc 2:22-40)
Chúng ta biết, khi chúng ta dâng một điều gì đó cho người khác, thì điều đó thuộc về người khác và tuỳ người đó sử dụng cho mục đích của mình. Những điều được dâng tặng cho người khác có thể là một cái gì đó cũng có thể là một ai đó. Hôm nay, chúng ta cùng với Giáo Hội mừng kính lễ Chúa Giêsu được dâng trong đền thánh. Nhưng tại sao Chúa Giêsu lại được dâng vào đền thờ khi chính Ngài là đền thờ? (x. Ga 2:19). Chúng ta cùng nhau để lời Chúa hướng dẫn chúng trong việc hiểu ý nghĩa của thánh lễ hôm nay.
Trong bài đọc 1, Ngôn sứ Malakhi trình bày cho chúng về viễn tượng Đức Chúa ngự vào trong thánh điện của Người (Ml 3:1). Người ngự vào thánh điện để ngự trên ngai xét xử muôn người: “Người sẽ ngồi để luyện kim tẩy bạc; Người sẽ thanh tẩy con cái Lêvi và tinh luyện chúng như vàng, như bạc. Bấy giờ, đối với Đức Chúa, chúng sẽ là những kẻ đến dâng lễ vật, theo lẽ công chính. Lễ vật của Giuđa và của Giêrusalem sẽ làm đẹp lòng Đức Chúa như những ngày xa xưa, như những năm thuở trước” (Ml 3:2-4). Những người được Ngài thanh luyện sẽ trở nên những người xứng đáng đến trước nhan Ngài để dâng lễ vật. Chi tiết chúng ta cần lưu ý là lễ vật của sự hiệp nhất của hai nhà Giuđa và Israel. Nói cách khác, không có lễ vật nào đẹp lòng Chúa cho bằng lễ vật giao hoà mang lại sự hiệp nhất. Chi tiết này gợi cho chúng ta ý nghĩa đầu tiên của thánh lễ hôm nay, đó là việc Chúa Giêsu không chỉ là Đức Chúa, Đấng ngự vào thánh điện của Ngài, nhưng Ngài còn là lễ vật dâng lên Thiên Chúa hầu mang lại sự hoà giải cho chúng ta. Mỗi người chúng ta trong thánh lễ hôm nay cũng được mời gọi để tiến dâng chính mình làm của lễ hoà giải dâng lên Thiên Chúa. Ở đâu có sự hiện diện của chúng ta, ở đó có sự hoà giải và hiệp nhất.
Bên cạnh lời kinh của ông Simêôn (Lc 2:29-32), Thánh Luca đã sử dụng câu chuyện của Anna và Elkana trong sách thứ nhất của Samuen (chương 1-2) cho như là một nguồn cho trình thuật dâng Chúa Giêsu trong đền thánh trong bài Tin Mừng hôm nay. Trong câu chuyện của Cựu Ước, chúng ta thấy Elkana và người vợ hiếm hoi của ông là Anna dâng Samuen cho Đức Chúa. Thầy tư tế Êli đón nhận việc dâng con trẻ Samuen vào trong đền thờ tại Shilô và ban phúc lành cho cha mẹ của Samuen. Thánh Luca đã mở rộng câu chuyện này bằng cách lồng vào đó những đề tài như sự hoàn thành lời hứa, đền thánh, tính phổ quát của ơn cứu độ, sự loại trừ, làm chứng và phụ nữ. Thánh sử sắp xếp cấu trúc của trình thuật như sau: 2:21-24 đặt bối cảnh cho hai nhân chứng là Anna và Simêon trong 2:25-38, và 2:39-40 tạo thành phần kết luận. Nội dung trung tâm của toàn bộ trình thuật nằm ở 2:29-32 vì nó cho biết Đấng Cứu Thế từ dòng dõi Đavít là Chúa Giêsu không chỉ là Đấng Cứu Thế cho một số người, mặc dù họ là những người được tuyển chọn, nhưng cho tất cả mọi người. Ngài chiến thắng kẻ thù của mình bằng chính nỗ lực mang lại hoà bình [bình an] cho con người. Chi tiết này mời gọi chúng ta có một cõi lòng mở rộng, không loại trừ, hầu có thể ôm chầm tất cả anh chị em của mình để yêu thương và tha thứ cho họ.
Hình ảnh quan trọng nhất chúng ta cần quan tâm trong trình thuật tin Mừng hôm nay là Chúa Giêsu và ông Simêôn. Chúa Giêsu được “bà Maria và ông Giuse đem con lên Giêrusalem, để tiến dâng cho Chúa, như đã chép trong Luật Chúa rằng: ‘Mọi con trai đầu lòng phải được thánh hiến, dành riêng cho Chúa’” (Lc 2:22-23). Chi tiết này cho thấy Chúa Giêsu chính là vị ‘Trưởng Tử’ của một đàn em đông đúc. Giống với vị tiền hô của mình Gioan, Chúa Giêsu cũng được cắt bì và chính thức được đóng ấn như là một thành viên của dân được Thiên Chúa tuyển chọn. Qua Ngài, ơn cứu độ của thế giới được đạt đến. Ở đây chúng ta thấy, Thánh Luca nhấn mạnh đến việc trung thành với luật của Môsê. Hình thức mới của ơn cứu độ của Thiên Chúa đến từ việc vâng phục luật này. Như chúng ta biết, luật thanh tẩy được tìm thấy trong Lv 12:2-8 (Lv 12:6 được ẩn chứa trong Lc 2:22 và Lv 12:8 trong 2:24). Luật thánh hiến con trai đầu lòng được tìm thấy trong sách Xh 13:1-2. Khi con trẻ được 1 tháng tuổi, con trẻ phải được chuộc lại với năm đồng tiền kẽm (Ds 3:47-48; 18:15-16). Thánh Luca không đề cập đến luật cuối cùng này, nhưng thay vào đó là giới thiệu việc dâng Chúa Giêsu mà trong đó ba luật của Cựu Ước không hiện diện. Dường như Thánh Luca phóng đại việc dâng hiến của người được thánh hiến để mang lại sự âm hưởng của việc dâng Samuen trong 1 Sam 1:22-24 và hai đoạn Cựu Ước được thánh sử ưa thích: (1) Đức Chúa ngự vào thánh điện của Ngài (Ml 3:1-2) và (2) Chúa Giêsu hiện diện trong đền thánh như là Đấng Cực Thánh được diễn tả trong thị kiến của Đanien (Đn 9:24).
Về phần mình, ông Simêôn được mô tả (1) “là người công chính và sùng đạo, ông những mong chờ niềm an ủi của Israel, và Thánh Thần hằng ngự trên ông; (2) đã được Thánh Thần linh báo là ông sẽ không thấy cái chết trước khi được thấy Đấng Kitô của Đức Chúa” (Lc 2:26-27). Tên của Simêôn có nghĩa là “Thiên Chúa đã lắng nghe.” Ông được mô tả cùng cách thức như cha mẹ của Gioan Tẩy Giả. Giây phút hạnh phúc nhất trong cuộc đời của Simêôn là lúc “ông ẵm lấy Hài Nhi trên tay, và chúc tụng Thiên Chúa rằng: “Muôn lạy Chúa, giờ đây theo lời Ngài đã hứa, xin để tôi tớ này được an bình ra đi. Vì chính mắt con được thấy ơn cứu độ Chúa đã dành sẵn cho muôn dân: Đó là ánh sáng soi đường cho dân ngoại, là vinh quang của Israel Dân Ngài” (Lc 2:28-32). Chi tiết này cho thấy, việc Chúa Giêsu ngự vào trong đền thánh được xây lên bằng gỗ đá chỉ là dấu hiệu của việc Ngài ngự đến trong cung điện được xây lên bởi xương thịt của con người. Việc Ngài ngự vào cung lòng của mỗi người là điều Ngài muốn chứ không phải là một đền thờ bằng gỗ đá. Như chúng ta đã lưu ý ở trên, sứ điệp của trình thuật hôm nay nằm trong câu 31-32. Hai câu này cho thấy, ơn cứu độ của Thiên Chúa trong Chúa Giêsu đi vượt ra và ôm chầm lấy dân được Chúa chọn là Israel và sau đó là bao bọc những người khác và các dân tộc (x. Lc 24:44-47). Các dân tộc không được xem là những người quyền thế bị hạ bệ (Lc 1:51-53) hoặc như những kẻ thù bị tiêu diệt (Lc 1:69-71). Họ là những người thừa tự của lời hứa của Thiên Chúa. Chi tiết này đưa chúng ta ra khỏi não trạng cục bộ của mình, tức là chỉ nghĩ về lợi ích và ơn cứu độ cho riêng mình, cho riêng nhóm của mình để rồi loại trừ những người khác. Sống với trái tim của Chúa Giêsu là sống một lối sống ôm chầm hết mọi người không phân biệt!
Lm. Antôn Nguyễn Ngọc Dũng, SDB
