
(1 V 8:22-23.27-30; Mc 7:1-13)
Sau khi Hòm Bia Thiên Chúa được đặt trong nơi cực thánh của Đền Thờ như được thuật lại trong bài đọc 1 hôm qua, vua Salômôn cầu nguyện với Đức Chúa như sau: “Lạy Đức Chúa là Thiên Chúa Israel, chốn trời cao cũng như nơi đất thấp, chẳng có thần nào giống như Ngài. Ngài vẫn giữ giao ước và tình thương đối với các tôi tớ Ngài, khi họ hết lòng bước đi trước nhan Ngài. Có thật Thiên Chúa cư ngụ dưới đất chăng? Này, trời cao thăm thẳm còn không chứa nổi Ngài, huống chi ngôi nhà con đã xây đây! Lạy Đức Chúa, Thiên Chúa của con! Xin đoái đến lời tôi tớ Chúa cầu xin khẩn nguyện, mà lắng nghe tiếng kêu cầu của tôi tớ Ngài dâng trước tôn nhan hôm nay. Xin Ngài để mắt nhìn đến ngôi nhà này đêm ngày, nhìn đến nơi này, vì Ngài đã phán ‘Danh Ta sẽ ở đấy’; xin Ngài lắng nghe lời nguyện tôi tớ Ngài dâng ở nơi đây” (1 V. 8:23.27-29). Trong lời cầu nguyện này, chúng ta tìm ra những yếu tố sau: (1) Tuyên xưng Đức Chúa là Chúa duy nhất trên trời cao cũng như đất thấp. Đây chính là trọng tâm của niềm tin Do Thái Giáo; (2) tuyên xưng Đức Chúa là Đấng trung thành giao ước và tình thương dành cho con người; (3) tuyên xưng sự siêu việt của Thiên Chúa, không chỗ nào có thể chứa nổi Ngài; (4) xin Chúa lắng nghe và dủ lòng thương xót đến dân Ngài; (5) xin Chúa ở lại trong “Đền Thờ” nhỏ bé mà con người dựng nên. Những yếu tố này giúp chúng ta trong đời sống cầu nguyện. Cầu nguyện luôn mang hai chiều kính, tôn vinh Thiên Chúa và thánh hoá con người. Nói cách khác, sau khi cầu nguyện Thiên Chúa được tôn vinh “qua chính cuộc sống” của chúng ta. Cầu nguyện phải giúp chúng ta sống tốt hơn.
Bài Tin Mừng hôm nay được xem là bước chuẩn bị cho cuộc tranh luận về đề tài “ô uế và không ô uế.” Cao trào của cuộc tranh luận về đề tại này sẽ được tìm thấy trong chương 8 (11-21), khi những người Pharisêu đòi Chúa Giêsu cho họ xem dấu lạ để thử người về quyền bính Ngài có trong việc giảng dạy về đề tài này. Đoạn Tin Mừng hôm nay cũng nhằm mục đích chuẩn bị cho hành trình giảng dạy của Chúa Giêsu bên ngoài Galilê, trong những vùng đất mà người Do Thái xem là ô uế, những vùng đất của dân ngoại.
Như thường lệ, Thánh Máccô trong bài Tin Mừng hôm nay sử dụng nghệ thuật tương phản trong thái độ để chuyển tải sứ điệp của mình. Cuối chương 6, trong bài Tin Mừng ngày hôm qua (Mc 6:53-56), chúng ta thấy thái độ đón nhận Chúa Giêsu của dân chúng. Thái độ này hoàn toàn tương phản với thái độ từ chối của “những người Pharisêu và một số kinh sư.” Nếu chúng ta liên kết với đề tài tương phản giữa “giới răn Thiên Chúa” và “truyền thống của tiền nhân” mà bài Tin Mừng hôm nay đề cập đến, chúng ta nhận ra rằng: Trong ý định ban đầu của Thiên Chúa, Ngài muốn “mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý” (1 Tim 2:4). Điều này được phản chiếu trong việc mọi người đón nhận Ngài; nhưng theo “truyền thống của những người Do Thái” chỉ những ai được tuyển chọn, là con cháu Abraham thì mới được hưởng ơn cứu độ. Điều này được phản chiếu trong thái độ của những người Pharisêu và một số kinh sư. Còn chúng ta: Chúng ta muốn mọi người được cứu độ, ngay cả những người chúng ta không thích, hay chúng ta chỉ muốn những người trong “nhóm” của chúng ta được cứu độ?
Như chúng ta đã chia sẻ ngày hôm qua, Giáo Hội chọn bài đọc 1 từ sách Sáng Thế để đưa chúng ta về với ý định ban đầu của Thiên Chúa. Điều này chúng ta thấy rõ trong cuộc tranh luận giữa Chúa Giêsu và những người Pharisêu và một số kinh sư trong bài Tin Mừng hôm nay. Cấu trúc của bài Tin Mừng hôm nay gồm 2 phần. Phần 1 là thách thức của những người Pharisêu và một số kinh sư về việc các môn đệ Chúa Giêsu không rửa tay trước khi ăn theo truyền thống của tiền nhân (Mc 7:1-8); và phần 2 là việc Chúa Giêsu chỉ trích những người chống đối Ngài đã dùng truyền thống của con người để thay thế cho các giới răn của Thiên Chúa qua việc thực hành korban: “Quả thế, ông Mô-sê đã dạy rằng: ‘Ngươi hãy thờ cha kính mẹ’ và ‘kẻ nào nguyền rủa cha mẹ, thì phải bị xử tử!’ Còn các ông, các ông lại bảo: ‘Người nào nói với cha với mẹ rằng: những gì con có để giúp cha mẹ đều là ‘coban’ nghĩa là lễ phẩm đã dâng cho Chúa’ rồi, và các ông không để cho người ấy làm gì để giúp cha mẹ nữa (Mc 7:10-12). Theo Chúa Giêsu, họ dùng truyền thống con người để tránh bổn phận của mình trước mặt Thiên Chúa cũng như biện minh cho những lỗi phạm của mình về luật bác ái. Ở đây, Chúa Giêsu một cách gián tiếp tuyên bố rằng: Ngài là Đấng có quyền giải thích luật. Đây chính là một khẳng định mang tính Kitô học. Tuy nhiên, điều chúng ta cần học ở đây là: Đừng tìm cách biện minh cho những lỗi phạm của chúng ta về việc thực hành bác ái.
Đi sâu hơn vào trong vấn đề tranh luận, chúng ta thấy cuộc tranh luận này bắt đầu với việc rửa tay, một hành vì mang tính cách bên ngoài và những người Pharisêu và một số kinh sư chỉ dừng lại ở đó. Nhưng Chúa Giêsu hướng những người chống đối Ngài vào yếu tố bên trong. Ngài trích lời của ngôn sứ Isaia để nói về điều này: “Dân này tôn kính Ta bằng môi bằng miệng,còn lòng chúng thì lại xa Ta. Chúng có thờ phượng Ta thì cũng vô ích, vì giáo lý chúng giảng dạy chỉ là giới luật phàm nhân” (Mc 7:6-7). Trong câu này, chúng ta thấy Chúa Giêsu muốn chúng ta phải trở về với ý định của Thiên Chúa khi thờ phượng Ngài. Ngài muốn chúng ta thờ phượng Ngài với cả con người của mình: trọn linh hồn và thân xác. Tóm lại, điều Thiên Chúa muốn chúng ta là không chỉ tôn thờ Ngài bằng môi bằng miệng, nhưng với trọn con tim. Nói cách khác, hãy đến với Chúa như là một “con người thống nhất – hồn và xác” chứ không phải chỉ thân xác như một “thây ma” hoặc chỉ linh hồn như một “bóng ma.”
Lm. Antôn Nguyễn Ngọc Dũng, SDB
