Suy Niệm Lời Chúa – Thứ Bảy sau Chúa Nhật XIV Thường Niên – Hãy Sợ Làm Mất Lòng Chúa!

(St 49:29-32; 50:15-26a; Mt 10:24-33)

Có câu nói mà chúng ta thường hay dùng để nói cho nhau nghe [đôi khi để chọc ghẹo nhau] là: “Suy bụng ta ra bụng người.” Một cách nào đó, câu nói này phản ánh câu chuyện được trình thuật trong bài đọc 1 hôm nay. Khi đọc kỹ bài đọc 1, chúng ta không khỏi bất ngờ vì trong cùng một bài đọc, chúng ta chứng kiến cái chết của hai người quan trọng, đó là Giacóp và Giuse. Tuy nhiên, điều đáng để chúng ta lưu ý là cấu trúc của bài đọc: mở đầu với cái chết của Giacóp và kết với cái chết của Giuse. Phần ở giữa nói về cuộc đối thoại giữa Giuse và anh em. Những chi tiết này muốn nói với chúng ta điều gì? Chúng nói lên sự thật của cuộc sống: Ai trong chúng ta cũng phải chết. Điều quan trọng là chúng ta phải sống thế nào để có một “cái kết” đầy phúc lành. Để có một cái kết hạnh phúc chúng ta phải làm gì? Câu trả lời được tìm thấy trong phần đối thoại giữa Giuse và anh em của ông.

Sau khi ông Giacóp qua đời, các anh ông Giuse nghĩ rằng ông Giuse còn hận các ông rồi sẽ trả thù:“Không khéo Giuse còn hận chúng ta và trả lại cho chúng ta tất cả điều ác chúng ta đã gây ra cho nó!” (St 50:15). Đọc những lời này, chúng ta có cảm giác như các người anh của Giuse đang “suy bụng ta ra bụng người.” Để tránh việc bị ông Giuse trả thù, các người anh lại “bịa chuyện” là Giacóp nói ông Giuse phải tha cho họ trong những lời sau: “Cha của chú trước khi chết đã truyền rằng: Các con hãy nói thế này với Giuse: ‘Thôi! Xin con tha tội tha lỗi cho các anh con, vì họ đã gây ra điều ác cho con.’ Bây giờ xin chú tha tội cho các kẻ làm tôi Thiên Chúa của cha chú!” Các ông không phải là người đến xin tha thứ, nhưng sai người khác đến với một “lời trăn trối của Giacóp” được các ông dựng lên. Đứng trước thái độ của những người anh, “ông Giuse khóc.” Ông khóc không phải bất kỳ lý do nào khác ngoài tâm tình đầy yêu thương và tha thứ mà cha ông muốn ông đối xử với anh em ông. Khi biết đã lấy được lòng của ông Giuse qua lời “trăn trối của Giacóp,” các anh ông Giuse đích thân đến xin tha thứ. Những lời ông Giuse nói cho các anh ông là điều đáng để chúng ta suy gẫm để sống hầu đạt được một cái kết hạnh phúc: “Đừng sợ! Tôi đâu có thay quyền Thiên Chúa! Các anh đã định làm điều ác cho tôi, nhưng Thiên Chúa lại định cho nó thành điều tốt, để thực hiện điều xảy ra hôm nay, là cứu sống một dân đông đảo. Bây giờ các anh đừng sợ, tôi sẽ cấp dưỡng cho các anh và con cái các anh” (St 50:19-21). Tóm lại, để có một cái kết tốt đẹp, chúng ta phải sống cuộc sống này với trọn tình yêu, đồng thời luôn sẵn sàng tha thứ cho những người làm hại chúng ta.

Chi tiết thứ hai đáng để chúng ta suy gẫm là lời trăn trối của ông Giuse: “Tôi sắp chết, nhưng thế nào Thiên Chúa cũng sẽ viếng thăm anh em và đưa anh em từ đất này lên đất mà Người đã thề hứa với ông Ápraham, ông Ixaác và ông Giacóp” (St 50:24). Qua những lời này, ông Giuse cho chúng ta thấy rằng dù sống trong vinh hoa phú quý trong đất Ai Cập, nhưng ông luôn mong ước được trở về đất hứa, đất mà Thiên Chúa đã hứa cho tổ phụ của ông. Ông bắt con cái Israel phải thề để đem ông ra khỏi đất Ai Cập, đất mà ông có tất cả vinh quang, nhưng đối với ông cũng là vùng đất nô lệ. Ông muốn ở với dân của ông trong đất hứa. Về phần chúng ta, đâu là nơi chúng ta mong được an nghỉ: đất Chúa hứa ban hay trần gian này với những niềm vui chóng qua?

Niềm vui và nỗi buồn của kiếp nhân sinh được trình bày trong bài đọc 1 cũng là điều các môn đệ Chúa Giêsu phải đối diện trong hành trình rao giảng Tin Mừng. Bài Tin Mừng hôm nay gồm ba phần: Phần 1 (Mt 10:24-25) tiếp tục lời Chúa Giêsu dạy về việc làm thế nào để đối diện với sự bách hại trong tương lai; phần 2 (Mt 10:26-31) nói về điều đáng sợ và điều không đáng sợ; phần 3 (Mt 10:32-33) trình bày về tầm quan trọng của việc tuyên xưng Chúa Giêsu trước mặt người khác. Chúng ta cùng nhau rút ra ba sứ điệp từ ba phần để sống trong ngày hôm nay.

Trong phần 1, Chúa Giêsu nói với các môn đệ lý do tại sao các ông bị bách hại: “Trò không hơn thầy, tớ không hơn chủ. Trò được như thầy, tớ được như chủ, đã là đủ rồi. Chủ nhà mà người ta còn gọi là Bêendêbun, huống chi là người nhà.” Câu này và những câu khác trong hai phần sau rất quan trọng để hiểu về ơn gọi của người môn đệ Chúa Giêsu trong các sách Tin Mừng. “Môn đệ” có nghĩa là “người học” hay “sinh viên.” Người theo Chúa Giêsu là người “sinh viên suốt đời” của Chúa Giêsu, bởi vì những gì Ngài dạy là sự khôn ngoan về cuộc sống. Tương quan thầy trò trong bối cảnh Do Thái là việc người học trò sau khi học xong những gì thầy phải dạy, tiếp tục đi đến học với thầy khác và sau đó chính mình trở thành thầy dạy. Để ngăn điều này xảy ra trong tương quan của người môn đệ với Chúa Giêsu, Thánh Mátthêu thêm vào câu “tớ được như chủ” để nói lên rằng: đối với người tin hữu, Chúa Giêsu không chỉ là thầy, nhưng còn là chủ, là Chúa. Trong câu này, Chúa Giêsu nói đến khả thể người môn đệ được chia sẻ trong cùng vinh quang, cũng như trong cùng khổ nạn mà Ngài phải chịu. Chúng ta luôn muốn được chia sẻ trong vinh quang của Chúa Giêsu, nhưng lại không muốn chia sẻ trong đau khổ. Người môn đệ chân thật là người sẵn sàng đón nhận tất cả mọi sự đến từ Chúa. Chúng ta đã có thái độ sẵn sàng này chưa?

Mỗi người trong chúng ta ai cũng có nỗi sợ riêng của mình. Chúa Giêsu, trong phần 2 của bài Tin Mừng, nói cho các môn đệ về một nỗi sợ mà họ cần phải có. Ngài nói họ phải sợ và không phải sợ ai; không phải sợ và phải sợ điều gì. Một cách cụ thể, người môn đệ không “sợ người ta” vì người ta “chỉ giết thân xác mà không giết được linh hồn,” nhưng người môn đệ sợ Thiên Chúa, “Đấng có thể tiêu diệt cả hồn lẫn xác trong hoả ngục.” Tuy nhiên, sứ điệp của phần này nằm trong lối viết “bánh mì kẹp”: câu 26 và câu 31 bắt đầu với những lời: “Vậy anh em đừng sợ.” Phần giữa nói về thực tế bị bách hại và giết chết mà người môn đệ phải đối diện khi rao giảng Tin Mừng. Trong phần giữa, Chúa Giêsu mời gọi các môn đệ phải can đảm trong việc rao giảng: “Thật ra, không có gì che giấu mà sẽ không được tỏ lộ, không có gì bí mật, mà người ta sẽ không biết. Điều Thầy nói với anh em lúc đêm hôm, thì hãy nói ra giữa ban ngày; và điều anh em nghe rỉ tai, thì hãy lên mái nhà rao giảng.” Nhưng khi rao giảng những điều bí mật và điều rỉ tai [mầu nhiệm Nước Trời], các môn đệ sẽ bị người ta giết thân xác. Đối diện với bắt bớ, Chúa Giêsu mời gọi các môn đệ đặt trọn niềm tin vào sự quan phòng của Thiên Chúa, Đấng quan tâm chăm sóc cho cả sự sống rẻ nhất: “Hai con chim sẻ chỉ bán được một hào phải không? Thế mà, không một con nào rơi xuống đất ngoài ý của Cha anh em.” Qua những lời này, Chúa Giêsu muốn nói với người môn đệ rằng: Chỉ có những người có đức tin vững mạnh mới có thể đứng vững trước bách hại, trước những khó khăn và nguy hiểm về thân xác mà đời sống rao giảng mang lại cho người môn đệ.

Cuối cùng, Chúa Giêsu nói cho các môn đệ về mối tương quan giữa việc tuyên xưng hoặc chối bỏ Ngài trong đời sống hiện tại với việc Ngài sẽ đón nhận hoặc chối bỏ họ trong đời sống mai sau. Khi liên kết tư tưởng này với phần thứ 2, chúng ta nhận ra rằng: khi không sợ những người chỉ giết thân xác, người môn đệ mới hiểu được tầm quan trọng trong việc tuyên xưng Chúa Giêsu trước mặt người khác. Nói cách khác, khi không sợ con người nhưng kính sợ Thiên Chúa, người môn đệ mới hiểu được ý nghĩa của câu: “Phàm ai tuyên bố nhận Thầy trước mặt thiên hạ, thì Thầy cũng sẽ tuyên bố nhận người ấy trước mặt Cha Thầy, Đấng ngự trên trời. Còn ai chối Thầy trước mặt thiên hạ, thì Thầy cũng sẽ chối người ấy trước mặt Cha Thầy, Đấng ngự trên trời.” Trong những lời này, Chúa Giêsu cho thấy chúng ta có tự do trong việc nhận hay chối Ngài. Việc nhận hay chối của chúng ta là yếu tố quyết định việc Ngài nhận hay chối chúng ta trước mặt Chúa Cha. Quyết định ở trong tầm tay mình! Chúng ta sẽ quyết định như thế nào: nhận hay chối Ngài!

Lm. Antôn Nguyễn Ngọc Dũng, SDB