(R 2:1-3.8-11; 4:13-17; Mt 23:1-12)
Bài đọc 1 hôm nay thuật lại câu chuyện của Rút. Chúng ta thấy rõ ràng có hai phần trong bài đọc 1: Phần 1 (2:1-11) nói cho chúng ta biết bối cảnh của cuộc gặp gỡ giữa Rút và Bôát và phần 2 (4:13-17) thuật lại việc Bôát lấy Rút làm vợ. Trong phần 1, điều đáng để chúng ta lưu ý là việc Rút xin mẹ chồng để đi mót lúa, nhưng chỉ ở “đằng sau người nào rộng lượng đối với con” (R 2:2). Đây chính là đặc tính mà Rút tìm kiếm như dấu chỉ từ Đức Chúa và Rút đã được Đức Chúa lắng nghe. Rút đã được Bôát rộng lượng cho vào mót trong ruộng mình vì ông đã nghe “người ta đã kể lại cho ta nghe tất cả những gì con đã làm cho mẹ chồng sau khi chồng con mất, cũng như chuyện con đã bỏ cả cha mẹ và quê hương, mà đến với một dân trước kia con không hề biết tới” (R 2:11). Hương thơm lòng tốt của Rút đã được đáp lại với lòng rộng lượng của Bôát. Đây chính là bối cảnh cho chuyện tình của Bôát và Rút. Chi tiết này mời gọi chúng ta sống tốt, sống quảng đại, sống rộng lượng. Những giá trị này luôn mang lại cho chúng ta danh thơm tiếng tốt và sẽ được đáp trả đúng thời đúng buổi. Phần 2 của câu chuyện nói cho chúng ta về việc Bôát lấy Rút làm vợ và niềm vui của bà Naomi khi Rút sinh con. Niềm vui của bà Naomi hệ tại việc Đức Chúa đã đoái thương nhìn đến bà để bà có người bảo tồn dòng dõi. Đứa cháu của bà “sẽ giúp bà lấy lại sức sống, và sẽ là người nâng đỡ bà trong tuổi già, vì mẹ nó là người con dâu biết yêu quý bà, nàng quý giá hơn bảy đứa con trai” (R 4:15). Những lời này cho thấy, “một người con dâu hiếu thảo thì đáng quý hơn bảy đứa con trai.” Câu chuyện giữa bà Naomi và Rút trở nên kiểu mẫu cho mối quan hệ giữa mẹ chồng – nàng dâu. Nói cách khác, mối quan hệ đích thật không chỉ dựa trên máu huyết, nhưng dựa trên lòng kính sợ Chúa và tình yêu dành cho nhau. Hãy đối xử với nhau với trọn tình yêu, lòng rộng lượng thì chúng ta sẽ nhận lại được những mối tương quan tốt đẹp trong cuộc sống.
Bài Tin Mừng hôm nay nằm trong bối cảnh của những lời ‘khốn’ chống lại các kinh sư và người Pharisêu của Chúa Giêsu. Chúng ta thấy bài Tin Mừng có hai phần: trong phần 1, Chúa Giêsu nêu ra lý do tại sao các kinh sư và người Pharisêu bị Chúa Giêsu ‘chống đối’ và trong phần 2, Chúa Giêsu dạy các môn đệ phải sống thái độ như thế nào trước người khác.
Trong phần 1, Chúa Giêsu công nhận việc giảng dạy của các kinh sư và người Pharisêu qua việc Ngài mời dân chúng và các môn đệ thực hành lời giảng dạy của họ: “Các kinh sư và các người Pharisêu ngồi trên toà ông Môsê mà giảng dạy. Vậy, tất cả những gì họ nói, anh em hãy làm, hãy giữ, còn những việc họ làm, thì đừng có làm theo, vì họ nói mà không làm” (Mt 23:1-3). Theo các học giả Kinh Thánh, từ ‘ngồi’ trên toà Môsê các kinh sư và người Pharisêu được sử dụng theo thì ‘quá khứ.’ Điều này ám chỉ rằng uy quyền của họ là ở quá khứ. “Toà của Môsê” là biểu tượng uy quyền của Môsê và những người Pharisêu tuyên nhận họ là những người thừa kế Môsê. Điểm đáng lưu ý trong những lời trên là việc Chúa Giêsu nêu ra lý do đầu tiên Ngài chống lại các kinh sư và những người Pharisêu, đó là lời dạy không đi đôi với hành động. Chúa Giêsu khuyên các môn đệ nghe những lời dạy của họ và đem ra thực hành, chứ không bắt chước những việc họ làm. Chi tiết này mời gọi chúng ta thực hành những gì mình nói. Khi làm được điều đó, chúng ta sẽ trở nên những người đáng tin cậy.
Ngoài việc khiển trách các kinh sư và người Pharisêu không sống điều họ dạy, Chúa Giêsu còn khiển trách họ về những điều sau: (1) không sống sự liên đới với người khác hay nói cách khác là đồng lao cộng khổ: “Họ bó những gánh nặng mà chất lên vai người ta, nhưng chính họ thì lại không buồn động ngón tay vào” (Mt 23:4); (2) làm việc để cho người khác tôn vinh mình: “Họ làm mọi việc cốt để cho thiên hạ thấy. Quả vậy, họ đeo những hộp kinh thật lớn, mang những tua áo thật dài” (Mt 23:5; luôn tìm kiếm chỗ danh dự và lời khen của người khác trong đám đông: “Họ ưa ngồi chỗ danh dự trong đám tiệc, chiếm hàng ghế đầu trong hội đường, thích được người ta chào hỏi ở những nơi công cộng và được thiên hạ gọi là thầy” (Mt 23:6-7). Đây cũng là những điều chúng ta cần lưu tâm vì nhiều lần chúng ta sống dửng dưng và đóng lòng mình lại trước những đau khổ của anh chị em. Chúng ta chỉ biết lo cho riêng mình. Cái tôi của chúng ta thật lớn vì chúng ta đặt cái tôi lên trước để được tôn vinh và phục vụ. Lời Chúa mời gọi chúng ta phải có đời sống thật khiêm nhường, ầm thầm và luôn đặt anh chị em mình lên trên để yêu thương và phục vụ.
Về phần các môn đệ, Chúa Giêsu mời gọi họ tập trung vào Ngài và tập trung vào Thiên Chúa hơn là vào chính mình: “Phần anh em, thì đừng để ai gọi mình là thầy, vì anh em chỉ có một Thầy; còn tất cả anh em đều là anh em với nhau. Anh em cũng đừng gọi ai dưới đất này là cha của anh em, vì anh em chỉ có một Cha là Cha trên trời. Anh em cũng đừng để ai gọi mình là người chỉ đạo, vì anh em chỉ có một vị chỉ đạo, là Đấng Kitô. Trong anh em, người làm lớn hơn cả, phải làm người phục vụ anh em. Ai tôn mình lên, sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống, sẽ được tôn lên” (Mt 23:8-12). Chúa Giêsu hướng các môn đệ đi ra khỏi cái tôi của mình và vượt qua những ‘danh hiệu’ mà người khác đặt cho mình. Điều quan trọng trong cuộc sống không phải là chạy theo những danh hiệu chính mình và người khác đặt ra, nhưng chạy theo danh hiệu mà Chúa Giêsu mời gọi chúng ta, đó là trở nên môn đệ chân chính của Ngài.
Lm. Antôn Nguyễn Ngọc Dũng, SDB