
(1 Ga 2:3-11; Lc 2:22-35)
Ai trong chúng ta cũng tự hào là chúng ta biết Chúa và biết người khác. Chúng ta không chỉ đơn thuần biết, nhưng chúng ta còn cho rằng chúng ta biết rất nhiều và rất tường tận về Chúa vì chúng ta có “bằng cấp” để chứng minh cho cái biết của mình. Nhưng cái “biết” theo nghĩa Kinh Thánh hoàn toàn khác với cái biết mà chúng ta thường hiểu. Theo nghĩa Kinh Thánh, biết không đơn thuần là “kết luận” của một tiến trình lý luận của lý trí, nhưng là “hoa trái của một kinh nghiệm, một cuộc gặp gỡ liên vị”; khi sự hiểu biết này đạt đến mức hoàn hảo, nó là “tình yêu.” Nói một cách ngắn gọn, người biết là “người yêu”: Khi tôi nói tôi biết Chúa và tôi biết người khác thì đồng nghĩa với việc tôi yêu Chúa và yêu người khác. Nhưng điều này không thường xảy ra trong cuộc sống vì có nhiều người họ biết Chúa rất tường tận nhưng họ không yêu Chúa, hoặc có yêu Chúa thì cũng chỉ yêu bằng môi bằng miệng, còn lòng họ thì xa Chúa, và con tim của họ thì bị của cải và danh vọng thế gian chiếm lấy.
Trong bài đọc 1 hôm nay, Thánh Gioan chỉ cho chúng ta cách thức để chúng ta chắc chắn rằng chúng ta biết Chúa, đó là, chúng ta giữ các giới răn của Ngài (1 Ga 2:3). Nói cách khác, chúng ta là những người nói dối khi chúng ta nói chúng ta biết Chúa mà chúng ta không tuân giữ giới răn của Ngài. Nếu chúng ta giữ lời Ngài, thì tình yêu của Thiên Chúa đã trở nên hoàn hảo trong chúng ta. Nếu chúng ta nói rằng chúng ta ở trong Ngài thì chúng ta phải sống một cuộc sống như Ngài đã sống, đó là, sống yêu thương: Cứ dấu này mà người khác biết anh [chị] em là môn đệ của thầy là anh [chị] em “ở lại trong tình yêu của Thầy” (Ga 15:9) và “anh [chị] em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh [chị] em (Ga 13:34). Trong giới răn mới về yêu thương, Chúa Giêsu thay đổi tiêu chuẩn của tình yêu từ “yêu tha nhân như chính mình” thành “yêu nhau như Thầy đã yêu thương anh em.” Tiêu chuẩn của tình yêu bây giờ chính là Thiên Chúa, Đấng “yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3:16). Như vậy, chúng ta không còn yêu người khác theo cách thức “chúng ta thích,” nhưng theo cách thức “Chúa muốn.”
Khi đọc Tin Mừng và các thư của Thánh Gioan, một trong những đề tài mà Thánh Gioan ưa thích đó là sự tương phản giữa ánh sáng và bóng tối. Chúng ta thấy điều này trong bài đọc 1 hôm nay: Ai yêu anh chị em của mình thì ở trong ánh sáng và ai ghét anh em của mình thì ở trong bóng tối. Ai ghét anh chị em của mình sẽ không biết mình đang đi về đâu vì bóng tối làm cho chúng ta mù loà, và không còn nhận ra người khác là anh chị em của mình (1 Ga 2:9-11). Thường những kẻ trộm thích bóng tối để người khác không xem thấy việc họ làm. Còn những người sống ngay thẳng và làm việc tốt họ không thích “bóng tối.” Đời sống trong ánh sáng là đời sống yêu thương và “nơi người ấy không có gì nên cớ vấp phạm” (1 Ga 2:10).
Điều đầu tiên làm chúng ta suy gẫm trong bài Tin Mừng hôm nay đó là việc Chúa Giêsu là Chúa, và theo Tin Mừng của Mat-thêu, là Môi-sen mới – người ban luật, mà vẫn tôn trọng và giữ luật. Chúng ta thấy rõ điều này trong việc Thánh Giuse và Mẹ Maria đem Ngài lên đền thờ để thực hiện cho Ngài những gì mà lề luật buộc “mọi con trai đầu lòng phải được thánh hiến, dành riêng cho Chúa” (Lc 2:23). Các ngài dâng của lễ theo luật Chúa truyền và đây là của lễ của những người nghèo, “một đôi chim gáy, hay một cặp bồ câu non” (Lc 2:24). Trong đêm Giáng Sinh, chúng ta thấy Ngài sinh ra nghèo và Ngài sống mối phúc của những “người nghèo của Thiên Chúa” suốt cuộc đời dương thế của Ngài. Qua điều này Ngài muốn dạy chúng ta về mối phúc của những người có “tinh thần nghèo khó, vì nước trời là của họ” (Mt 5:3).
Bài Tin Mừng hôm nay nói về hai nhân vật, “thuộc thời Cựu Ước” [chúng ta có thể nói như thế] được ơn trông thấy vị Cứu Tinh, đó là ông Si-mê-on và nữ ngôn sứ An-na. Điều chúng ta đáng suy gẫm ở đây chính là thái độ và cảm xúc của Si-mê-on khi ông bồng ẵm Hài Nhi Giêsu trong tay. Cảm xúc vui sướng dâng trào khi “có Chúa trong tay” đã làm cho ông cảm thấy mãn nguyện, không còn mong ước gì khác. Mọi khát vọng của ông được thoả mãn! Đối với ông, giây phút bồng ẵm Chúa trong tay là giây phút những đau khổ và đắng cay của những năm tháng chờ đợi tan biến: mọi nỗi buồn của ông đã trở thành niềm vui. Chỉ có Chúa là tất cả và trong niềm vui sướng hân hoan ông cất lên lời kinh “Nunc Dimittis” (“Muôn Lạy Chúa”), lời kinh mà Giáo Hội dùng mỗi tối trước khi con cái của mình đi vào giấc ngủ. Còn chúng ta, chúng ta “bồng ẵm” Chúa trong tay khi chúng ta rước Chúa trong Bí Tích Thánh Thể, cảm xúc của chúng ta thế nào? Chúng ta có cảm nghiệm được Ngài là tất cả không? Có Ngài, mọi đau khổ, tổn thương và thất bại của chúng ta có tan biến và trở thành niềm vui không?
Một điều khác làm chúng ta ngạc nhiên trong Tin Mừng hôm nay là việc ông Si-mê-on nói tiên tri không chỉ về Hài Nhi Giêsu, mà còn nói tiên tri về Mẹ Maria: “Còn chính bà, một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn bà. Như vậy, những ý nghĩ từ thâm tâm nhiều người sẽ lộ ra” (Lc 2:35). Trong niềm vui có Chúa là tất cả, Mẹ Maria cũng sẽ phải thông phần vào những đau khổ của Chúa Giêsu, Đấng “được đặt làm duyên cớ cho nhiều người Ít-ra-en ngã xuống hay đứng lên. Cháu còn là dấu hiệu bị người đời chống báng” (Lc 2:34). Trong đêm Giáng Sinh, Mẹ đã giữ mọi sự ấy và suy niệm trong lòng (Lc 2:19): Mẹ không giữ gì trong trái tim Mẹ ngoài tình yêu vô biên của Thiên Chúa dành cho Mẹ và nhân loại trong chính Người Con bé nhỏ của Mẹ. Khi lưỡi gươm đâu thâu trái tim Chúa Giêsu trên thập giá, trái tim Mẹ cũng bị đâm thâu, để rồi tất cả tâm tư của những ai khát mong một “tình yêu chân thật” và “yêu cho đến cùng” được tỏ lộ. Những ai chỉ giữ tình yêu của Thiên Chúa trong tim sẽ hiểu được thế nào là “yêu cho đến cùng,” và “yêu vô điều kiện”!
Lm. Antôn Nguyễn Ngọc Dũng, SDB
