Suy Niệm Lời Chúa – Thứ Hai Trong Tuần Bát Nhật Phục Sinh – Trở Về Gặp Chúa Giêsu Nơi Khởi Đầu

(Cv 2:14.22b-33; Mt 28:8-15)

Trong Mùa Phục Sinh, các bài đọc 1 được lấy từ sách Công Vụ các Tông Đồ. Vào khoảng cuối thế kỷ thứ hai, cuốn sách này được gán cho Thánh Luca. Theo các học giả Kinh Thánh, sách Công Vụ các Tông Đồ là cuốn thứ hai trong bộ sách hai cuốn của Thánh Luca viết về lịch sử Kinh Thánh [Tin Mừng Thánh Luca là cuốn thứ nhất]. Cuốn sách này trình bày ơn cứu độ được hứa cho dân Israel trong Cựu Ước, được Đức Giêsu Kitô hoàn thành và dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần đã được mang đến cho dân ngoại như thế nào. Công Vụ các Tông Đồ được viết khoảng năm 80-90 AD.

Trong bài đọc 1 hôm nay, chúng ta tìm thấy điều được gọi là Kerygma [“giảng dạy”]. Từ này được dùng để trình bày nội dung về sứ điệp của các Tông Đồ về Chúa Giêsu. Thánh Phaolô nhắc nhở chúng ta trong Thư gởi tín hữu Rôma [10:14] rằng, Kerygma là điều thiết yếu mà chúng ta phải tin để được ơn cứu độ. Chúng ta tìm thấy Kerygma trong lời giảng dạy của Thánh Phêrô: “Theo kế hoạch Thiên Chúa đã định và biết trước, Đức Giêsu ấy đã bị nộp, và anh em đã dùng bàn tay kẻ dữ đóng đinh Người vào thập giá mà giết đi. Nhưng Thiên Chúa đã làm cho Người sống lại, giải thoát Người khỏi những đau khổ của cái chết. Vì lẽ cái chết không tài nào khống chế được Người mãi. (Cv 2: 23-24). Những lời này được Thánh Phêrô lập lại trong đoạn tiếp theo: “Người đã chết và được mai táng, và mộ của người còn ở giữa chúng ta cho đến ngày nay. Nhưng vì là ngôn sứ và biết rằng Thiên Chúa đã thề với người là sẽ đặt một người trong dòng dõi trên ngai vàng của người, nên người đã thấy trước và loan báo sự phục sinh của Đức Kitô khi nói: Người đã không bị bỏ mặc trong cõi âm ty và thân xác Người không phải hư nát. Chính Đức Giêsu đó, Thiên Chúa đã làm cho sống lại; về điều này, tất cả chúng tôi xin làm chứng” (Cv 2:29-32). Đọc những lời này, chúng ta có thể nhận ra những yếu tố sau đây của Kerygma: Chúa Giêsu đã bị nộp, bị đóng đinh, chết và đã phục sinh [sống lại]. Đây là nội dung của lời rao giảng đầu tiên của các tông đồ. Nói cách khác, sứ điệp về Chúa Giêsu mà các Tông Đồ rao giảng là Ngài đã chết cho chúng ta, đã sống lại và sẽ đến trong vinh quang. Như vậy, sứ điệp đầu tiên của Tin Mừng là sứ điệp Thập Giá và Phục Sinh của Chúa Giêsu, sứ điệp của cuộc “vượt qua” từ sự chết đến sự sống của Chúa Giêsu. Như Thánh Phêrô và các Tông Đồ, chúng ta cũng được mời gọi để rao giảng sứ điệp của cuộc vượt qua của Chúa Giêsu trong ngày sống của mình. Qua lời nói, cử chỉ và hành động của mình, chúng ta phải tỏ cho người khác biết rằng chúng ta đang sống mầu nhiệm Phục Sinh của Chúa Giêsu, đó là chúng ta đã chết đi cho con người cũ của mình và đang sống con người mới đầy yêu thương trong Đức Kitô.

Bài Tin Mừng hôm nay trình bày cho chúng ta sự kiện Chúa Giêsu hiện ra với những người phụ nữ đến viếng mộ Ngài. Sự kiện bắt đầu với cảm xúc lẫn lộn của các người phụ nữ trước sự kiện ngôi mộ trống và những lời của thiên thần: “Khi ấy, các người phụ nữ vội vã rời khỏi mộ, tuy sợ hãi nhưng cũng rất đỗi vui mừng, chạy về báo tin cho môn đệ Đức Giêsu hay” (Mt 28:8). Cảm xúc vừa sợ hãi vừa vui mừng. Theo tâm lý học, đây chính là cảm xúc của những người chuẩn bị bước vào đời sống hôn nhân. Những người phụ nữ đã trở thành tông đồ của các tông đồ, và lời chứng của họ trở nên đáng tin cậy về mặt lịch sử. Cảm xúc lẫn lộn của những người phụ nữ trở thành hành động thờ phượng và sứ mệnh sau khi gặp Chúa Giêsu, Đấng lòng họ hằng yêu mến: “Bỗng Đức Giêsu đón gặp các bà và nói: ‘Chào chị em!’ Các bà tiến lại gần Người, ôm lấy chân, và bái lạy Người. Bấy giờ, Đức Giêsu nói với các bà: ‘Chị em đừng sợ! Về báo cho anh em của Thầy để họ đến Galilê. Họ sẽ được thấy Thầy ở đó’” (Mt 28:9-10). Truyền thống về việc Chúa Giêsu phục sinh tỏ mình ra cho những người phụ nữ còn được Thánh Gioan thuật lại trong Tin Mừng của mình, nhưng Thánh Mátthêu thêm vào hành động bái lạy để làm chứng cho thực tại của thân xác phục sinh (x. 1 Cr 15:44). Một chi tiết cần chúng ta lưu ý là việc Chúa Giêsu gọi các môn đệ của Ngài là  “anh em” như trong Tin Mừng Thánh Gioan (26:17). Khi gọi các môn đệ như thế, Chúa Giêsu muốn nói rằng Ngài đã tha thứ cho sự “bất trung” của họ. Từ nay trở đi, những con người đã chối và bỏ Ngài trở thành những thành viên trong gia đình mới của Ngài, gia đình mà Ngài đã sử dụng cái chết và sự phục sinh của mình để quy tụ lại. Đứng trước thực tại này, chúng ta cũng được mời gọi sống sứ điệp tha thứ của phục sinh. Chúng ta được mời gọi biến những người mà chúng ta xem là kẻ thù hoặc những kẻ chống đối thành anh chị em của mình. Chỉ khi thực hành điều này, chúng ta mới thực sự sống sứ điệp phục sinh.

Khác với những người phụ nữ, những người lính phản ứng hoàn toàn trái ngược. Sự kiện Chúa Giêsu sống lại mang lại niềm vui và đức tin cho những người yêu mến Chúa Giêsu, nhưng mang lại sự lo sợ và nghi ngờ nơi những người giết Ngài. Chi tiết này cho thấy cùng một sứ điệp hay sự kiện, có người xem đó là tin mừng, nhưng cũng có người xem đó là điều gì đáng sợ như chúng ta thấy trong thái độ của các thượng tế và kỳ mục: “Các thượng tế liền họp với các kỳ mục; sau khi bàn bạc, họ cho lính một số tiền lớn, và bảo: ‘Các anh hãy nói như thế này: Ban đêm đang lúc chúng tôi ngủ, các môn đệ của hắn đã đến lấy trộm xác. Nếu sự việc này đến tai quan tổng trấn, chính chúng tôi sẽ dàn xếp với quan và lo cho các anh được vô sự.’ Lính đã nhận tiền và làm theo lời họ dạy. Câu chuyện này được phổ biến giữa người Do Thái cho đến ngày nay” (Mt 28:12-15). Chúng ta chỉ tìm thấy sự kiện này trong Tin Mừng Thánh Mátthêu. Theo các học giả Kinh Thánh, đoạn này tiếp tục những gì đã được ám chỉ trong những đoạn trước (x. 27:62-66; 28:4) và cùng với những đoạn này phản chiếu những cuộc tranh luận xảy ra chung quanh sự kiện phục sinh của Chúa Giêsu trong những thập niên 80 và 90. Các thượng tế và kỳ mục không chỉ “hối lộ” các lính canh mà còn yêu cầu họ nói dối và trấn an họ về việc chểnh mảng trong công việc điều mà có thể sẽ bị phạt nặng. Trước những hứa hẹn của các thượng tế và kỳ mục, các lính canh làm những gì họ được yêu cầu. Chi tiết này chỉ ra rằng, những người lãnh đạo đã trở thành những thầy dạy về phạm tội. Sự đổ vỡ và trống rỗng trong đời sống thiêng liêng thường được khoả lấp bởi những nỗ lực tích luỹ của cải vật chất. Điều này khuyến cáo chúng ta về sự nguy hiểm của của cải vật chất cho đời sống thiêng liêng: Khi chúng ta chạy theo của cải vật chất và sử dụng chúng cho những mục đích xấu của mình thì chúng ta đang dần dần giết chết đời sống thiêng liêng của chúng ta. Đừng để của cải vật chất làm chúng ta trở nên những người nói dối, tham lam, đồng loã trong việc xấu của người khác mà quên mất mình có một linh hồn bất tử cần được nuôi dưỡng bằng đời sống thiêng liêng lành mạnh.

Lm. Antôn Nguyễn Ngọc Dũng, SDB