
(Cv 3:11-26; Lc 24:35-48)
Bài đọc 1 tường thuật cho chúng ta một bài giảng khác của Thánh Phêrô sau khi chữa lành người què tại hành lang Salômôn. Thánh Phêrô sử dụng sự kiện chữa lành để rao giảng về Đức Kitô: “Thưa đồng bào Israel, sao lại ngạc nhiên về điều đó, sao lại nhìn chúng tôi chằm chằm, như thể chúng tôi đã làm cho người này đi lại được, nhờ quyền năng riêng hay lòng đạo đức của chúng tôi? Thiên Chúa của các tổ phụ Ápraham, Ixaác và Giacóp, Thiên Chúa của cha ông chúng ta, đã tôn vinh Tôi Trung của Người là Đức Giêsu, Đấng mà chính anh em đã nộp và chối bỏ trước mặt quan Philatô, dù quan ấy xét là phải tha…. Chính nhờ lòng tin vào danh Người, mà danh Người đã làm cho kẻ anh em nhìn và biết đây trở nên cứng cáp; chính lòng tin Người đã ban cho anh này được khỏi hẳn như thế, ngay trước mắt tất cả anh em” (Cv 3:12-16). Trong những lời này, Thánh Phêrô quy chiếu việc chữa lành về đức tin vào Chúa Giêsu. Đây chính là điều mà Chúa Giêsu thường đòi hỏi nơi những người Ngài chữa lành. Điều này cho thấy sứ điệp Tin Mừng mà các tông đồ rao giảng chính là sứ điệp Tin Mừng của Chúa Giêsu. Nói cách khác, các tông đồ không nói hoặc không làm gì ngoài những điều họ đã thấy và nghe từ Chúa Giêsu. Là những tông đồ của Chúa Giêsu, là những người đã nghe và thấy những kỳ công Chúa đã thực hiện, chúng ta có nói và làm những gì Chúa Giêsu nói và làm không? Hay chúng ta vẫn nói lời và làm những gì “của chính mình,” những lời nói và hành động thường làm tổn thương người khác?
Trong bài Tin Mừng hôm nay, chúng ta nghe về lời sai đi của Chúa Giêsu. Nhưng sự sai đi chỉ xảy ra sau khi hai môn đệ đã “trở về” từ hành trình của riêng mình để đi cùng hành trình với Chúa Giêsu: “Khi ấy, hai môn đệ từ Emmau trở về, thuật lại những gì đã xảy ra dọc đường và việc mình đã nhận ra Chúa thế nào khi Người bẻ bánh” (Lc 24:35). Chỉ những người môn đệ đi cùng hành trình với Chúa Giêsu mới có khả năng mang sứ điệp phục sinh đến cho người khác và giúp họ nhận ra Chúa Giêsu, Người cũng đang đồng hành với họ.
Bài Tin Mừng hôm nay nằm trong phần cuối của Tin Mừng Thánh Luca. Nó chứa đựng tất cả những đề tài về bình an (câu 36), bàn tiệc (câu 41-43), lời hứa của Thiên Chúa được hoàn thành nơi Chúa Giêsu (câu 44-47), tha thứ tội lỗi (câu 47), Thành Thánh Giêrusalem (câu 47,52), nhân chứng (câu 48), Chúa Thánh Thần (câu 49), Chúa Giêsu hoàn thành hành trình trở về với Thiên Chúa (câu 51), và Đền Thờ (câu 53). Toàn bộ Tin Mừng đạt đến đỉnh cao trong cử chỉ tôn thờ mà Thánh Luca diễn tả: Họ tôn thờ Ngài (câu 52). Chúng ta có thể suy gẫm trên những chi tiết sau của bài Tin Mừng:
Thứ nhất, món quà phục sinh của Chúa Giêsu cho các môn đệ: “Các ông còn đang nói, thì chính Đức Giêsu đứng giữa các ông và bảo: “Bình an cho anh em!’” (Lc 24:36). Đây chính là lời chúc lành trọn vẹn và hoàn hảo cho cuộc sống được hứa trong 2:14. Lời chúc lành này được mang lại bởi sứ vụ rao giảng Nước Thiên Chúa của Chúa Giêsu và được công bố trong 19:38 bây giờ được ban cho các môn đệ như một món quà vĩnh viễn bởi Đức Kitô phục sinh. Chúa Giêsu cũng ban cho mỗi người chúng ta món quà này vì Ngài đã ban cho chúng ta sự sống mới của Ngài trong ngày rửa tội. Nhưng nhiều lần chúng ta đánh mất món quà quý giá này qua những lần chúng ta sống không yêu thương và tha thứ, để rồi tâm hồn trở nên bất an với những tính toán hơn thua của thế gian.
Thứ hai, thái độ nghi ngờ của các môn đệ và sự kiên nhẫn hiền dịu của Chúa Giêsu: Như chúng ta biết, theo mạch văn thì các môn đệ đang tụ họp và đang nghe hai môn đệ trên đường Emmau thuật lại câu chuyện họ gặp Chúa Giêsu thế nào, thì Ngài hiện ra đứng giữa họ. Điều này làm họ “kinh hồn bạt vía, tưởng là thấy ma.” (Lc 24:37). Chi tiết này chứng tỏ, sự phục sinh của Chúa Giêsu đã mang lại một sự khác biệt nơi thân xác [diện mạo] của Ngài nên các môn đệ không nhận ra. Nhưng Chúa Giêsu khẳng định với họ là thân xác Ngài vẫn là thân xác trước kia của Ngài: “Nhưng Người nói: ‘Sao lại hoảng hốt? Sao lòng anh em còn ngờ vực? Nhìn chân tay Thầy coi, chính Thầy đây mà! Cứ rờ xem, ma đâu có xương có thịt như anh em thấy Thầy có đây?’ Nói xong, Người đưa tay chân ra cho các ông xem” (Lc 24:38-40). Trong những lời này, Thánh Luca muốn nhấn mạnh đến hai điều một nhân chứng của Chúa Giêsu cần phải có, đó là “nhìn thấy Chúa Giêsu” và “đụng chạm đến Chúa Giêsu.” Chỉ những người thấy Chúa Giêsu và đụng chạm đến Ngài [hoặc được Ngài đụng chạm đến] mới có thể trở thành nhân chứng đáng tin cậy cho mầu nhiệm phục sinh. Đây cũng là hai yếu tố quan trọng để vượt thắng sự hoảng hốt, ngờ vực trong đời sống đức tin. Khi chúng ta nghi ngờ tình yêu và sự tha thứ của Chúa, khi chúng ta muốn trở nên những nhân chứng đáng tin cậy của Ngài, chúng ta cần đến với Chúa Giêsu hoặc mở lòng để Chúa Giêsu đến với chúng ta, chúng ta cần đụng chạm đến Chúa Giêsu hoặc để Chúa Giêsu đụng chạm đến chúng ta. Có như thế, những vết thương của chúng ta mới được chữa lành và được chia sẻ trong đời sống mới với Chúa Giêsu.
Thứ ba, Chúa Giêsu được nhận ra trong lúc đồng bàn [chia sẻ bữa ăn] với các môn đệ: “Các ông còn chưa tin vì mừng quá, và còn đang ngỡ ngàng, thì Người hỏi: ‘Ở đây anh em có gì ăn không?’ Các ông đưa cho Người một khúc cá nướng. Người cầm lấy và ăn trước mặt các ông” (Lc 24:41-43). Đây là đề tài chúng ta thấy Thánh Luca phát triển trong Tin Mừng của mình. Mỗi lần Chúa Giêsu ngồi vào bàn chia sẻ của ăn với ai, thì đức tin yếu kém của người đó được nâng đỡ, những nghi ngờ bị xua tan và người đó tìm lại được niềm vui cho hành trình theo Chúa Giêsu của mình. Điểm quan trọng mà những lời trên muốn nói đến không nhắm đến việc bảo vệ thực tại về thân xác của Chúa Giêsu, đúng hơn là nói về chiến thắng của Chúa Giêsu trên sự chết được biểu lộ qua việc Ngài ngồi vào bàn tiệc huynh đệ với các môn đệ Ngài và làm cho bàn tiệc này được canh tân với niềm vui phục sinh, niềm vui bất diệt.
Cuối cùng, sứ điệp Tin Mừng là sứ điệp yêu thương và tha thứ: “Có lời Kinh Thánh chép rằng: Đấng Kitô phải chịu khổ hình, rồi ngày thứ ba, từ cõi chết sống lại; phải nhân danh Người mà rao giảng cho muôn dân, bắt đầu từ Giêrusalem, kêu gọi họ sám hối để được ơn tha tội. Chính anh em là chứng nhân về những điều này” (Lc 24:46-48). Các môn đệ đã cảm nghiệm được điều này qua biến cố phục sinh. Chúa Giêsu đã chết cho họ, đã hiện ra để chữa lành vết thương kém lòng tin, đã đồng bàn với họ để chia sẻ sự sống mới với họ. Giờ đây, đến lượt mình, các môn đệ cũng đem sứ điệp yêu thương và tha thứ mà họ cảm nghiệm đến tận cùng trái đất. Niềm vui phục sinh, niềm vui được yêu và được tha thứ phải được thể hiện qua đời sống yêu thương và tha thứ. Chúng ta đã làm điều này chưa?
Lm. Antôn Nguyễn Ngọc Dũng, SDB
