Suy Niệm Lời Chúa – Vọng Phục Sinh – Hãy Vượt Qua Con Người Tội Lỗi Của Chúng Ta Với Chúa Giêsu

(St 1:1 – 2:2; Xh 14:15 – 15:1a; Ed 36:16-17a.18-28; Rm 6:3-11; Mt 28:1-10)

Trong đêm hôm nay, phụng vụ Lời Chúa có tất cả 7 bài đọc, 5 bài từ Cựu Ước và 2 bài từ Tân Ước. Tuy nhiên, chúng ta thường chỉ nghe 5 trong 7 bài đọc, 3 bài từ Cựu Ước và 2 bài từ Tân Ước. Chúng ta để Lời Chúa trong phụng vụ đêm nay hướng dẫn chúng ta sống mầu nhiệm phục sinh của Chúa Giêsu cách xứng đáng.

Trong bài đọc trích từ Sách Sáng Thế, chúng ta được nghe về công trình sáng tạo của Thiên Chúa. Một trong những điệp khúc chúng ta nghe trong suốt công trình tạo dựng đó là, “Thiên Chúa thấy [mọi sự Ngài đã sáng tạo] là tốt đẹp (x. St 1:3,10,12,18,21,25,31). Khi nghe hết bản văn, chúng ta nhận ra một khác biệt nhỏ nhưng rất quan trọng trong những lần khẳng định này. Khẳng định trong các câu 3, 10, 12, 18, 21, và 25 giống nhau và đơn giản là: “Thiên Chúa thấy thế là tốt đẹp. Tuy nhiên, câu khẳng định trong câu 31, sau khi Thiên Chúa sáng tạo con người, hoàn toàn khác biệt và sự khác biệt nằm ở “cấp độ tốt lành”: “Thiên Chúa thấy mọi sự Người đã làm ra quả là rất tốt đẹp!” Với sự hiện diện của con người mọi sự được mang một cấp độ tốt lành cao hơn vì con người có nhân phẩm cao quý, được tạo dựng theo hình ảnh và giống Thiên Chúa (x. St 1: 26-27). Chính nhân phẩm cao quý này mà khi con người phạm tội, Thiên Chúa đã đến để phục hồi lại nhân phẩm cho họ. Đây chính là ý nghĩa của đêm nay. Nói cách khác, mầu nhiệm phục sinh là “một sáng tạo mới.” Và qua sáng tạo này Thiên Chúa sẽ phục hồi mọi sự trở nên “rất tốt đẹp”.

Bài đọc trích từ sách Xuất Hành là bài đọc Cựu Ước bắt buộc trong phụng vụ lời Chúa đêm nay. Nó trình thuật cho chúng ta về biến cố Vượt Qua của người Do Thái. Qua biến cố này, dân Do Thái được giải thoát khỏi cảnh nô lệ Ai Cập để đi vào đất Thiên Chúa đã hứa cho tổ phụ của họ và con cháu đến muôn đời. Đêm nay, chúng ta cử hành mầu nhiệm Vược Qua của chúng ta: cuộc Vượt Qua thoát khỏi cảnh nô lệ của tội lỗi để được tự do làm con cái Thiên Chúa. Như Ngài đã chiến đấu chống lại người Ai Cập trong Cựu Ước, Thiên Chúa cũng chiến đấu chống lại quyền lực ma quỷ qua Đức Giêsu Kitô. Đêm nay, chúng ta được mời gọi để Vượt Qua con người cũ của mình, con người đã bị giam cầm bởi những thói hư tật xấu, con người bị giam giữ trong nhà tù của tội lỗi. Chúng ta được mời gọi để cho Thiên Chúa chiếm lấy chúng ta hầu biến chúng ta thành những con người tự do để yêu thương, để tha thứ và để chiếm lấy phần đất gia nghiệp mà Chúa đã hứa cho chúng ta.

Bài trích từ sách Ngôn Sứ Êdêkien ghi lại cho chúng ta những tâm tình đầy yêu thương của Thiên Chúa trước sự phản bội của dân Israel và của mỗi người chúng ta. Những lời của Thiên Chúa mang lại cho chúng ta hơi ấm của tình thương và sự an ủi: “Ta sẽ đem các ngươi ra khỏi các dân tộc, sẽ quy tụ các ngươi lại từ khắp các nước, và sẽ dẫn các ngươi về đất của các ngươi. Rồi Ta sẽ rảy nước thanh sạch trên các ngươi và các ngươi sẽ được thanh sạch, các ngươi sẽ được sạch mọi ô uế và mọi tà thần. Ta sẽ ban tặng các ngươi một quả tim mới, sẽ đặt thần khí mới vào lòng các ngươi. Ta sẽ bỏ đi quả tim bằng đá khỏi thân mình các ngươi và sẽ ban tặng các ngươi một quả tim bằng thịt. Chính thần trí của Ta, Ta sẽ đặt vào lòng các ngươi, Ta sẽ làm cho các ngươi đi theo thánh chỉ, tuân giữ các phán quyết của Ta và đem ra thi hành. Các ngươi sẽ cư ngụ trong đất Ta đã ban cho tổ tiên các ngươi. Các ngươi sẽ là dân của Ta. Còn Ta, Ta sẽ là Thiên Chúa các ngươi” (Ed 36:24-28). Đêm nay, qua hơi ấm của ánh nến, chúng ta cảm nghiệm được hơi ấm tình yêu Thiên Chúa để xua tan sự băng giá trong con tim vô cảm của chúng ta.

Về phần mình, Thánh Phaolô trong thư gửi tín hữu Rôma nhắc nhở chúng ta về ý nghĩa của Bí Tích Rửa Tội mà chúng ta đã lãnh nhận. Trong Bí Tích Rửa Tội, chúng ta được dìm trong cái chết của Chúa Giêsu, và “vì được dìm vào trong cái chết của Người, chúng ta đã cùng được mai táng với Người. Bởi thế, cũng như Người đã được sống lại từ cõi chết nhờ quyền năng vinh hiển của Chúa Cha, thì chúng ta cũng được sống một đời sống mới” (Rm 6:4). Thánh Phaolô mời gọi chúng ta đóng đinh con người cũ của chúng ta vào thập giá với Đức Kitô, để như thế, “con người do tội lỗi thống trị đã bị huỷ diệt, và chúng ta không còn làm nô lệ cho tội lỗi nữa” (Rm 6:6). Như vậy, qua đêm nay chúng ta hoàn toàn là con người mới trong Đức Kitô. Con người cũ của ghen ghét, hận thù, nóng giận, không tha thứ, nghĩ xấu và nói xấu người khác không còn thống trị chúng ta. Thay vào đó là một con người biết cảm thông, biết an ủi, biết yêu thương và biết tha thứ cho anh chị em của chúng ta. Người nào không biến đổi như thế thì vẫn không hiểu được mầu nhiệm phục sinh của Chúa Giêsu. Hãy làm cho sự phục sinh của Chúa Giêsu được hiện thực hoá trong cuộc đời chúng ta.

Như chúng ta biết, trong đêm cực thánh này, Giáo Hội cố gắng truyền đạt ý nghĩa của mầu nhiệm được cử hành trong đêm vọng Phục Sinh: mầu nhiệm Phục Sinh của Chúa Giêsu.  Để đạt được điều này, Giáo Hội nói với con cái của mình bằng một ngôn ngữ xứng hợp, đó là thứ ngôn ngữ của biểu tượng. Ba biểu tượng chính chi phối phụng vụ đêm Vọng Phục Sinh là ánh sáng, nước, và “bài ca mới”, đó là, bài ca Alleluia. Chúng ta cùng nhau suy gẫm về ba biểu tượng này để hiểu và sống mầu nhiệm phục sinh của đêm cực trọng này.[1]

Trước tiên, biểu tượng ánh sáng. Đây là một trong những biểu tượng đầu tiên của nhân loại. Dù ở Phương Bắc thiếu ánh sáng hoặc ở Phương Nam dư thừa và chan hoà ánh sáng, ánh sáng ở mọi nơi đã trở thành cho con người hình ảnh của sức mạnh thần linh nhiệm mầu, sức mạnh mà con người biết rằng đã duy trì họ trong sự hiện hữu. Thật thế, có một thời ánh sáng còn hơn là một hình ảnh đối với con người. Chính thánh Augustine đã từng rung động cách sâu xa bởi vẻ đẹp lộng lẫy của ánh sáng đến nỗi thánh nhân can đảm viết: “Đức Kitô không được gọi là ‘ánh sáng’ trong cùng cách thức mà Ngài được gọi là “đá tảng góc tường.’ Cái tên ‘đá tảng góc tường’ được áp dụng cho Ngài bằng phép ẩn dụ, trong khi đó ‘ánh sáng’ được áp dụng theo nghĩa đen” (De Genesi ad litteram IV, 28, 45). Ánh sáng trần thế là sự phản chiếu trực tiếp của thực tại của Thiên Chúa và mang lại cho chúng ta một cái nhìn thoáng qua tuyệt vời nhất về Ngài, Đấng cư ngụ trong ánh sáng siêu việt (1 Tim 6:16).

Chúng ta chỉ có thể hiểu ý nghĩa sâu xa của hình ảnh ánh sáng trong đêm cực thánh này khi chúng ta nhìn lại năm phụng vụ. Trong năm phụng vụ, chúng ta thấy có hai đêm cực thánh, đó là Giáng Sinh và Phục Sinh. Yếu tố chung của hai đêm này là biểu tượng của ánh sáng hoà quyện với biểu tượng của bóng tối. Trong cả hai đêm, Giáo Hội sử dụng sự tương phản lẫn nhau của bóng đêm và ánh sáng để chỉ cho thấy nội dung của ngày lễ là gì trong một hình thức mang tính biểu tượng: đó là sự gặp gỡ giữa Thiên Chúa và thế giới, sự đi vào trong thế giới cách vinh quang của Thiên Chúa, một thế giới từ chối việc chuẩn bị cho Ngài một chỗ ở và thật thế, cuối cùng vẫn không thể ngăn cản Ngài khỏi việc chiếm cho mình một chỗ trong thế giới. Vở kịch về ánh sáng và bóng tối trong lịch sử nhân loại lại có trung tâm điểm là Đức Kitô, hay tìm thấy ý nghĩa nơi Đức Kitô. Đây là một vở kịch về cuộc gặp gỡ giữa Thiên Chúa và con người. Vở kịch này được bắt đầu vào ngày Giáng Sinh khi Thiên Chúa đến gõ cửa một thế giới từ chối Ngài mặc dù nó thuộc về Ngài (Ga 1,5,11). Nhưng thế giới không thể ngăn cản việc đến của Ngài. Chính Ngài trở thành “thế giới” trong việc trở thành một con người. Việc đến của Ngài dường như là một thất bại của ánh sáng, ánh sáng trở thành bóng tối, nhưng đồng thời nó là sự chiến thắng đầu tiên và dấu ẩn của ánh sáng, bởi vì thế giới đã không thể ngăn cản sự đến này của Ngài, tuy nhiên dù nó có thể đã cài then những cánh cửa của các quán trọ của nó cách cẩn thận. Điều này cho chúng ta thấy, mầu nhiệm phục sinh đã ẩn dấu trong mầu nhiệm nhập thể của Ngôi Hai Thiên Chúa.

Bây giờ, vào ngày Phục Sinh, vở kịch đạt đến cao trào và màn chính của nó. Bóng tối đã sử dụng vũ khí cuối cùng của nó, đó là sự chết. Theo một kiểu cách pháp lý khéo léo, bóng tối đã tuyên bố Sự Thật và Tình Yêu là tội phạm chính của lịch sử thế giới và đã kết tội người mang ánh sáng đến. Nhưng Sự Phục Sinh mang lại một sự đảo lộn. Ánh sáng đã chiến thắng lừng lẫy và bây giờ đang sống cách không thể bị đánh bại. Quan trọng nhất là ánh sáng đã lấy một tí của thế giới làm của riêng mình và biến nó thành chính mình.

Trong phụng vụ đêm nay, khi chúng ta chờ đợi ánh sáng Phục Sinh được thắp lên trong ngôi nhà thờ tối tăm, chúng ta phải cảm nghiệm được một sự khám phá mang tính an ủi, đó là Thiên Chúa hoàn toàn biết đêm đen mà chúng ta đang bị bao quanh. Nói tóm lại, Ngài đã thắp lên ánh sáng của Ngài tại trung tâm của đêm đen. “Ánh sáng của Đức Kitô! – Tạ ơn Chúa!” Đêm đen làm cho chúng ta có thể hiểu rõ giá trị của những gì mà ánh sáng thật sự là. Ánh sáng là sự rực rỡ, chói ngời hoặc là sự tỏa sáng giúp cho chúng ta có thể nhìn thấy; ánh sáng chỉ cho chúng ta con đường và cho chúng ta phương hướng; ánh sáng giúp chúng ta biết cả những người khác và chính mình. Ánh sáng là hơi ấm mà đã củng cố và mang lại sự biến đổi; ánh sáng an ủi và làm vui thỏa lòng người. Cuối cùng, ánh sáng là sự sống, và ngọn lửa đung đưa run rẩy nhỏ bé này là hình ảnh của một mầu nhiệm tuyệt diệu, chúng ta gọi mầu nhiệm đó là “sự sống” và mầu nhiệm đó thật sự hoàn toàn phụ thuộc vào ánh sáng. Chẳng bao lâu toàn bộ nhà thờ được sáng tỏ với ánh sáng chói lòa của những ngọn nến mà mọi người đang cầm. Vào lúc này chúng ta không chỉ cử hành Sự Phục Sinh; chúng ta còn được ban cho một cái nhìn trước về lần trở lại của Đức Chúa, Đấng mà chúng ta đi đến để gặp với những ngọn đèn thắp sáng. Đó là một cái nhìn thoáng của bữa tiệc cánh chung vĩ đại của ánh sáng, một sự nếm cảm trước tiệc cưới của Thiên Chúa, bữa tiệc mà được tô điểm bởi ánh sáng lập lòe của vô số những ngọn nến. Một cái gì đó của niềm vui: niềm vui mà đã đánh dấu bữa tiệc cưới phải là của chúng ta vào đêm hôm nay, đêm rực rỡ với những ngọn nến. Chúng ta cũng nên tự hỏi chính mình câu hỏi này: “Tôi sẽ là một trong những người ngồi tại bàn tiệc của Thiên Chúa không? Đèn của tôi sẽ có đủ dầu cho tiệc cưới vĩnh cửu không?”  Thật sự thế giới đen tối, nhưng ngay chỉ một ngọn nến cũng đủ mang ánh sáng vào trong vũng sâu của bóng tối. Không phải Thiên Chúa trao cho chúng ta một ngọn nến vào ngày chúng ta rửa tội và các phương tiện cần thiết để thắp nó lên sao? Chúng ta nên có đủ can đảm để thắp sáng ngọn nến của sự kiên nhẫn của chúng ta, sự tin tưởng của chúng ta, và tình yêu của chúng ta. Thay vì than phiền đêm tối, chúng ta nên can đảm thắp sáng ngọn nến nhỏ bé mà Thiên Chúa đã cho chúng ta vay mượn: “Ánh sáng của Đức Kitô! – Tạ ơn Chúa!”

Biểu tượng chính thứ hai của Đêm Phục Sinh là nước. Giống như ngọn nến phục sinh, chậu nước được đặt giữa cộng đoàn đang cử hành mầu nhiệm Phục Sinh, được trang trí và tung hô với những lời tưng bừng ca ngợi, cho đến cao điểm khi ánh sáng và nước giao hòa trong lễ cưới bởi ba lần nhúng nến phục sinh vào trong nước thánh. Nghi thức này có thể nhắc cho chúng ta về những khoảng khắc quý giá khi mặt trời được phản chiếu trên mặt nước trong suốt và lấp lánh của một ngọn suối trên núi, đồng thời trời và đất dường như trở nên một trong sự hiệp nhất mầu nhiệm của nước và ánh sáng. Nước, giống như ánh sáng, là biểu tượng quan trọng của nhân loại. Các sử gia về tôn giáo nói cho chúng ta rằng ánh sáng là một biểu tượng của “nguồn năng lượng hạt nhân,” nước là một biểu tượng của “đất.” Đó là: các cơ thể ánh sáng mang lại sự tráng lệ, huy hoàng siêu việt của tất cả những gì là thiên giới: lộng lẫy nguy nga nhưng là một mãnh lực sự sống nguy hiểm; một mãnh lực mà vượt qua tầm với của chúng ta và không bao giờ nằm trong sự tùy nghi sử dụng của chúng ta nhưng chính nó tự do trao ban và tự do cự tuyệt. Mặt khác, nước là biểu tượng cho tất cả những gì là quý báu trên trái đất. Bất kỳ ai đã từng khát đều biết về sự thật này. Bất kỳ ai đã từng chịu sự thiêu đốt cách ác liệt của mặt trời trong nhiều giờ cho đến lúc không chịu nổi và thình lình một cách tình cờ bắt gặp một nguồn nước trong lành và lấp lánh, người đó biết rằng thật sự không có gì quý giá hơn là nước sạch và trong lành. Đó là lý do tại sao nước khơi dậy trong chúng ta ký ức về Vườn Địa Đàng và sự màu mỡ của nó. Cuối cùng, một lần nữa điều đối nghịch của tất cả những điều này để giúp chúng ta hiểu thấu hoàn toàn những gì là sự tuyệt diệu mà nước là: Bụi bẩn và nặng nhọc của ngày sống được rửa sạch khi chúng ta dìm mình trong dòng nước mà từ đó chúng ta nổi lên cách mới mẻ như là một đứa trẻ mới sinh. Điều này ám chỉ rằng, những người đã dìm mình trong nước rửa tội sẽ trở nên tinh tuyền, vì vậy phải sống xứng đáng với ơn gọi của mình.

Biểu tượng thứ ba của Phục Sinh là “bài ca mới,” Alleluia. Chúng ta phải công nhận rằng chúng ta hát bài ca mới này trong tất cả sự sung mãn của nó chỉ trong “thế giới mới,” khi Thiên Chúa gọi chúng ta bởi một “tên mới” (Kh 2:17) và mọi thứ được trở nên mới. Trong biểu tượng này, chúng ta được phép cảm nếm niềm vui lớn của đêm Vọng Phục Sinh. Bởi vì ca hát, và đặc biệt là việc hát lên bài ca mới, suy cho cùng là sự biểu hiện bên ngoài của niềm vui. Khi chúng ta nói đến các thánh trên thiên đàng ca hát, chúng ta không làm gì hơn là dùng một hình ảnh để nói cho chúng ta biết rằng toàn bộ con người của các ngài rung lên với niềm vui. Theo kinh nghiệm của chúng ta, ca hát chỉ ra rằng con người đang vượt qua các ranh giới của những gì thuần túy là lý trí và rơi vào trong một loại xuất thần; con người sống hoàn toàn với lý trí có thể diễn tả bằng ngôn ngữ hằng ngày (đó là lý do tại sao những người sống bằng lý trí ít khi bị cám dỗ để hát lên). Bây giờ, sự ca hát, mà qua đó con người đi vượt qua những giới hạn của lý trí và diễn tả toàn bộ hữu thể của mình như nó là, tìm thấy được hình thức tột đỉnh của nó trong câu hát Alleluia, bài ca mà trong đó bản chất sâu xa nhất của tất cả các bài ca đạt được sự hiện thân tinh tuyền nhất của nó.

Từ Alleluia là sự diễn tả cách nguyên thủy của từ Do Thái có nghĩa là “Chúc Tụng Yahweh!” Nhưng trong phụng vụ của đêm Vọng Phục Sinh nó chỉ mang một ẩn dụ xa của ý nghĩa nguyên thủy này, bởi vì nếu ý nghĩa nguyên thủy này là điểm chính, từ Do Thái sẽ phải được chuyển dịch. Nhưng thật sự mà nói, điều chúng ta đang bàn ở đây một cái gì đó là không thể được chuyển dịch. Alleluia đơn giản là sự diễn tả không lời trong một bài ca nói về niềm vui, một bài ca mà không đòi hỏi một lời nào bởi vì nó siêu việt trên tất cả các ngôn từ. Trong việc này, nó giống như một sự hân hoan và vui mừng mà phải được tìm thấy ở giữa mọi người, như là một phép lạ của niềm vui, của việc có thể và tự do để hân hoan, vui mừng, được bày tỏ chính mình trong mỗi dân nước. Nếu việc ca hát Alleilua là bộ phận thứ ba trong biểu tượng đầy ấn tượng sâu sắc của phụng vụ Phục Sinh, như thế nó cũng là bộ phận thứ ba trong cấu trúc căn bản của con người: một hữu thể có khả năng để ca hát và vui mừng. Alleluia giống như là sự mạc khải đầu tiên của những gì có thể và sẽ một ngày nào đó xảy ra trong chúng ta: toàn bộ con người của chúng ta sẽ trở nên một niềm vui to lớn duy nhất. Thật là một viễn cảnh tuyệt vời! Viễn cảnh này thúc đẩy chúng ta, ít là cho đêm hôm nay, quên đi tất cả những gì là thứ yếu, tầm thường, những thứ đè nặng và làm chúng ta lo lắng, và để cho chính mình bị cuốn theo bởi sự mong đợi này, sự mong đợi đó chính là thực tại tương lai đã hiện diện trong chúng ta rồi, dù kín ẩn, và như thế hát lên với toàn bộ tâm hồn và sự chân thành: Alleluia!

Tóm lại, ba biểu tượng của đêm Vọng Phục sinh hôm nay mời gọi chúng ta trở nên ánh sáng của Đức Kitô trong bóng đêm đen của thế giới, trở nên thửa ruộng màu mỡ sinh nhiều hoa trái vì được tưới mát bởi suối nguồn ân sủng, trở nên niềm vui cho thế giới bị nhấn chìm trong những đau khổ của hận thù, bệnh tật và chia rẽ. Hãy cử hành đêm nay với niềm vui và đời sống mới trong Đức Kitô.

Lm. Antôn Nguyễn Ngọc Dũng, SDB