“Như Cha đã sai Thầy, cũng cũng sai anh em” (Ga 20, 21)
Chúa Giêsu nhận lãnh sứ vụ cứu độ nhân loại từ Chúa Cha, và Người đã đến trần gian vì “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã tặng ban Con Một” ( Ga 3,16). Toàn bộ đời sống và hoạt động của Chúa Giêsu là để thi hành thánh ý Chúa Cha, hầu đem ơn cứu độ cho nhân loại: “Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Cha Thầy.” ( Ga 4, 34). Khi hoàn tất chương trình cứu độ qua thập giá và phục sinh, Chúa Giêsu đã trao lại sứ mạng cho Hội Thánh “Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh em” ( Ga 20, 21).
Vâng theo lệnh Thầy, Hội Thánh qua mọi thời không ngừng thi hành sứ vụ loan báo Tin Mừng và “làm cho muôn dân trở thành môn đệ” ( Mt 28,19), tuy nhiên, trong bối cảnh thời đại ngày nay, sứ vụ tông đồ đang đối diện với nhiều thách đố như tục hóa, duy vật, sự phát triển của công nghệ… khiến nhiệt tâm tông đồ giảm sút đáng kể. Trước thực trạng ấy, người tông dồ được mời gọi không ngừng trở về nguồn cội của sứ vụ là chính Thiên Chúa, để tái khám phá lại tình yêu sứ vụ từ nơi Đức Giêsu, trở về nguồn Linh Đạo Đặc Sủng của Đấng Sáng Lập, cũng như lắng nghe giáo huấn của Hội Thánh, để nhờ đó, nhiệt tâm của người tông đồ được phục hồi, đổi mới và trung thành.
- Nền tảng thi hành sứ mạng của Chúa Giêsu:
Chúa Giêsu khi thi hành sứ mạng cứu thế ở trần gian, cuộc sống của Người hoàn toàn tập trung vào hai chiều kích: thứ nhất là sống hiệp thông với Chúa Cha, thứ hai là Người hoàn toàn hiến thân cho sứ vụ cứu rỗi nhân loại theo chương trình của Cha.
- Chiều kích hiệp thông với Chúa Cha và làm theo ý Cha:
Trong các sách Tin Mừng ghi lại, ta dễ dàng nhận ra rằng, cuộc sống của Chúa Giêsu đặt nền tảng cũng như trung tâm là hiệp thông trọn vẹn nên một trong sự sống của Chúa Cha, Chúa Cha ở trong Người và Người ở trong Chúa Cha (Ga10, 30; 14, 11), Chúa Giêsu luôn sống kết hiệp cách riêng tư cùng Cha trong giây phút đầu ngày, khi trời còn tối mịt ( Mc1, 35), hay khi đêm khuya cô tịch (Lc 6, 12) hoặc lúc đang thi hành rao giảng Tin Mừng: Người lên tiếng cầu xin trong ý Cha, tạ ơn Cha khi làm phép lạ (Ga 11, 41-42), ngợi khen Cha khi Cha tỏ mầu nhiệm cho những người bé nhỏ (Mt 11, 25), ngồi bên Cha lâu giờ trước khi quyết định những sự việc quan trọng như khi chọn 12 Tông đồ (Lc 6, 12-13), hay khi sợ hãi bước vào cuộc khổ nạn, vì Người luôn tìm kiếm và thi hành thánh ý Chúa Cha (Lc 22, 41- 42).
Như vậy, có thể nói, cuộc sống thi hành sứ mạng ở trần gian của Chúa Giêsu xoay quanh việc hiệp thông trọn vẹn với Cha, để ở lại trong tình yêu, sự sống của Chúa Cha và sống trọn ý Cha.
- Chúa Giêsu hiến thân cứu độ con người:
Chúa Giêsu khẳng định: “Con người đến để tìm và cứu những gì đã hư mất” (Lc 19, 10), Người đến thi hành ý muốn của Chúa Cha là chuộc lại sự sống mà con người đã vì tội lỗi mà đánh mất bằng cả cái chết và phục sinh của Người. Chúa Giêsu từ khi sinh ra nơi hang đá nghèo hèn tăm tối cho đến chết trần trụi trên cây thập giá, Người không giữ gì cho bản thân mình, Người nói “con chồn có hang, chim trời có tổ, Con Người không có chỗ tựa đầu” (Mt 8, 20), Người chỉ toàn tâm toàn ý cho việc rao giảng Nước Trời. Người rong ruỗi khắp các ngã đường, từ sáng đến chiều tối, Người dạy dỗ những ai đến với Người vì thấy họ như bầy chiên không người chăn dắt, Người chữa lành biết bao người đau yếu bệnh tật từ các nơi tuôn đến với Người, Người xoa dịu những nỗi đau của những người bị xã hội bỏ rơi, khinh miệt, Ngài tha thứ chữa lành tâm hồn của những người lầm lạc, tội lỗi (Mt 4, 23. 9,35), Người giải thoát những người bất hạnh bị ma quỷ giam cầm (Lc 4, 41). Người mạc khải cho họ biết về Nước Thiên Chúa, biết về Chúa Cha (Mt 4, 23. 11, 27). Cuối cùng, Ngài sẵn sàng đón nhận gánh lấy sự phản bội, bất trung của nhân loại để trả lại sự công chính cho Chúa Cha bằng cái chết nhục nhã đau khổ của Người trên thập giá, Người đã cứu lấy thân phận hèn mọn chúng ta bằng giá máu của Người, vì Người yêu thương họ cho đến cùng (Ga 13, 1). Người là hiện thân của lòng thương xót vô biên của Chúa Cha dành cho nhân loại (Lc15, 1-32). Nhờ đời sống kết hợp với Cha, Chúa Giêsu biết có sức mạnh được ý Cha và vâng phục thi hành. Người làm như ý Cha là cách thể hiện tình yêu lớn nhất dành cho nhân loại.
- Nền tảng tông đồ của Đức Cha Lambert – Đấng Sáng lập Dòng Mến Thánh Giá.
“ Trước khi gieo vãi hạt giống Phúc Âm, hãy dùng lời cầu nguyện làm cho mưa móc sa xuống trên cánh đồng” ( ĐC Lambert – Ts 31)
- Một đời sống kết hiệp liên lỉ với Chúa:
Đức Cha Lambert – Đấng Sáng Lập của chúng ta trên hành trình thi hành sứ mạng tông đồ, ngài khám phá ra sự kết hợp hài hòa giữa đời sống cầu nguyện và sứ vụ tông đồ.
Cầu nguyện chính là nguồn mạch nuôi dưỡng, soi sáng mọi hoạt động truyền giáo của ngài. Ngài khẳng định và nhắc nhở con cái mình: hãy là người cầu nguyện trước khi là những người hành động, như vậy, đời sống tông đồ không thể thiếu vắng hay ít đi đời sống cầu nguyện, mà đó là việc tiên vàn. Dù Đức Cha của chúng ta cùng lúc nhiều việc phải trách nhiệm lo toan, nhưng ngài luôn trung thành, liên lỉ cầu nguyện trong mọi lúc mọi nơi để tìm kiếm ý Chúa trên cuộc đời của mình: trong từng biến cố, lúc được ơn cũng như lúc khô khan, lúc thuận lợi cũng như bất thành, mỗi ngày, ngài cầu nguyện lâu giờ trước Thánh Thể, làm các cuộc tĩnh tâm lớn nhỏ. Một điều đặc biệt mà chính ngài được ơn soi sáng từ khi nhỏ là yêu mến Thánh Giá Chúa, và đối tượng duy nhất ngài kết hiệp sâu xa là Chúa Giêsu Kitô Chịu Đóng Đinh, thế nên ngài muốn chính bản thân mình trở nên đồng hình đồng dạng, và muốn nên của lễ hiến tế cho Đấng mà ngài yêu mến tôn thờ, sẵn sàng để Chúa mượn thân xác ngài để tiếp nối những hy sinh lao nhọc của Chúa (x. Bts 1, 4-5) hoàn toàn thống trị mình. Mọi thử thách, đau khổ trong đời sống thiêng liêng cũng như trong sứ mạng được ngài biến nên hy lễ, ngài cho đó là “phương thế duy nhất để thắng bản tính tự nhiên” và đó là “cách cố gắng sống phù hợp với Vị Thủ Lãnh Đội – Mão – Gai” (x.Tuyển tập Bút Tích tr. 147). Nhờ luôn sống tâm tình thần kết hiệp, Đức Cha Lambert luôn hạnh phúc trong tâm thế đi tìm kiếm và thực thi ơn soi sáng của Chúa trong sứ mạng ơn gọi của mình.
- Hiến thân cho tình yêu lớn nhất dành cho Chúa Giêsu Kitô Chịu Đóng Đinh:
Chiều kích tông đồ là một trong ba chiều kích linh đạo của Đức Cha Lambert – Đấng Sáng Lập dong Mến Thánh Giá. Trong đó, đời sống tông đồ thể hiện ở hai phương diện: chuyển cầu trong nguyện đường và trong cuộc sống. Trong nguyện đường, ngài sống kết hiệp mật thiết với Đức Kitô Chịu Đóng Đinh, kết hiệp mọi đau khổ đời mình với hy tế của Chúa Giê su trên thập giá, để thể hiện tình yêu lớn nhất dành cho Chúa, đồng thời vì yêu mến các linh hồn và cho lương dân được tìm thấy ơn cứu độ.
Với nền tảng linh đạo: người tông đồ đích thực là của lễ được hiến dâng mỗi ngày, kết hợp với hy lễ của Chúa Kitô, và với tư tưởng thiêng liêng: không phải những gì chúng ta làm, nhưng là những gì chúng ta hiến dâng mới làm cho sứ vụ sinh hoa trái, thế nên, ngài sẵn sàng hy sinh từ bỏ tất cả để chọn đời sống dâng hiến, và can trường dấn thân trên con đường truyền giáo xa xôi, đầy mạo hiểm ở vùng Á Đông. Nhờ vào đời sống thánh thiện và thủ đắc đời sống nội tâm sâu xa, Đấng Sáng lập khiêm tốn đón nhận, sẵn sàng từng bước dấn thân vào con đường tông đồ trong thái độ hoàn toàn vâng phục Giáo Hội và vì Giáo Hội, ngài hoàn toàn hiến mình cho việc mở mang Nước Chúa cụ thể như: ngài đặt nền móng vững chắc cho Giáo Hội Việt Nam, đào tạo hàng giáo sĩ bản xứ- hoa trái chiến lược cho tương lai (1670 trong chuyến kinh lý Đang Ngoài), thành lập Hiệp Hội tín hữu Mến Thánh Giá (1668), khai sinh Dòng Mến Thánh Giá, mang linh đạo Thánh Giá (1670 tại Phố Hiến), hoa trái này vẫn lan tỏa và phát triển mạnh mẽ cho đến hôm nay (vntaiwan.catholic.org.tw), Ngài thi hành sứ mạng tông đồ với lòng yêu mến, gắn kết vô vàn thánh giá của bản thân với Thánh Giá Chúa Kitô Chịu Đóng Đinh, những vất vả ấy ngài “coi như là những ân huệ phi thường của Thiên Chúa, vì nhờ nó sẽ làm ta xa rời dính bén thế gian, làm ta chạy đến với Thiên Chúa” (x. Tuyển tập bút tích tr. 146) và hoàn toàn trở nên ơn ích cho các linh hồn , ngài nói “không có gì ơn ích cho các linh hồn bằng thập giá” (x.Tuyển tập bút tích tr. 146) vì vậy mà ngài không hề nao núng, lùi bước khi đối mặt với bao thử thách trên hành trình truyền giáo, ngay cả khi đối diện với cả cái chết đến với bản thân. Đức Cha Lambert hoàn toàn hiến thân mình cho sứ vụ tông đồ, cho Giáo Hội là thân thể Chúa Giêsu. Đời sống tông đồ của ngài mọi sự bắt đầu cũng từ Thiên Chúa và kết thúc đều trong Thiên Chúa trong một tâm hồn rất bình an và phó thác.
- Phục hồi nhiệt tâm tông đồ của người tu sĩ hôm nay:
- Thách đố dẫn đến suy giảm nhiệt tâm tông đồ:
- Suy yếu tương quan cá vị với Thiên Chúa – Đấng nguồn mạch của sứ mạng:
Với tốc độ và nhịp sống của thời đại hôm nay, cộng với văn minh công nghệ đã khiến cho người tu sĩ hôm nay cảm thấy “xa lạ” với thinh lặng nội tâm và khoảng thinh lặng bên ngoài. Họ dễ dàng dành thời gian cho việc của Chúa hay những việc ngoài việc Chúa hơn cho chính Chúa. Chính cuộc sống hối hả làm cho họ mất kiên nhẫn cho việc ở lại với Chúa. Thời gian cầu nguyện, ngồi bên Chúa không còn là việc quan trọng và chọn lựa tiên quyết dứt khoát nữa, nhưng dễ trở thành hình thức và máy móc, tâm trí thì nôn nóng, lo ra, bản thân dễ đưa ra nhiều lý do để giản lược và suy giảm chất lượng nghiêm trọng đời sống thiêng liêng. Chính sự coi nhẹ và qua loa về đời sống thiêng liêng, đã không đưa người tu sĩ tiến một bước nào trong tương quan cá vị với Chúa, dần quên đi việc lấy Chúa là cùng đích và nguồn sống của đời dâng hiến và niềm vui tông đồ. Họ mất dần sự nhạy bén của hồn tông đồ, và nhiệt tâm đúng nghĩa mà Tin Mừng đòi hỏi, mà trở nên nguội lạnh, xơ cứng trong đời sống thiêng liêng, việc tông đồ chỉ như người làm từ thiện thuần túy.
- Ảnh hưởng từ não trạng thế tục:
Với sức ảnh hưởng mạnh mẽ lối sống tục hóa ngày nay, người tu sĩ dễ cuốn vào lối sống chủ nghĩa hưởng thụ, đề cao cá nhân, yêu chuộng tiện nghi và chạy theo thành tích bên ngoài, chính ảnh hưởng nghiêm trọng này cho phép người tông đồ hưởng thụ vật chất quá mức cần thiết, thích sự đầy đủ thoải mái, tiện nghi. Như thế, người tu sĩ xa rời dần các lời khuyên Phúc Âm, không còn là hình ảnh phản chiếu và lan tỏa sống động về hình ảnh Chúa Giêsu hiến thân nữa, trái lại, họ lại ngại hy sinh, ngại sống khó nghèo và từ bỏ. Như vậy, Giáo Hội dần mất đi những chứng nhân đích thực cho Tin Mừng, cho con người thời đại hôm nay.
- Khó khăn từ đòi hỏi sứ vụ tông đồ, từ nối kết cộng đoàn:
Lý do làm giảm sút nhiệt tâm tông đồ của người tu sĩ ngày nay cũng từ nhu cầu mục vụ và từ đời sống cộng đoàn. Mục vụ ngày nay đòi hỏi người tông đồ có chuyên môn, giỏi tổ chức, công nghệ… điều này mang đến cho người tông đồ có những áp lực nhất định, đòi buộc bản thân phải nổ lực gần như kiệt sức, đặc biệt cho những nơi thiếu điều kiện và cho ai giới hạn về năng lực. Ngoài ra, người tông đồ làm một lúc nhiều trách vụ, gây ra căng thẳng, mệt mỏi. Những lúc như vậy, mà cộng đoàn nơi người thi hành sứ mạng thiếu sự quan tâm, đồng hành… thì người tông đồ lâu dần sẽ rơi vào căng thẳng, cô đơn kéo dài, mệt mỏi tích tụ, không còn sức tha thiết chăm lo đời sống nội tâm, và hậu quả dẫn tới là dễ mất quân bình trong đời sống thánh hiến, đánh mất niềm vui ban đầu, nhiệt tâm tông đồ sẽ bị ăn mòn, phai nhạt, lúc gặp thử thách, sẽ dễ nản chí buông xuôi, phó mặc.
- Phục hồi nhiệt tâm tông đồ:
“ Vì lý do đó, tôi nhắc lại anh phải khơi dậy đặc sủng của Thiêm Chúa, đặc sủng anh đã nhận được khi tôi đặt tay trên anh” ( 2Tm 1, 6-12)
Để phục hồi nhiệt tâm tông đồ, trước hết, người thi hành tông đồ hôm nay cần nhận biết được Giáo Hội nói chung, và cá nhân họ nói riêng, đang đối mặt với thách đố khó khăn nào trong thời đại hôm nay, và một khi chính bản thân người tông đồ nhận ra chính họ đang bị giảm sút nhiệt tâm tông đồ bởi lý do nào và ở mức nào, thì bản thân mình cần “dừng chân”, quay về lại với đời sống nội tâm, quay về với căn nguyên sứ mạng tông đồ là chính Thiên Chúa, lắng nghe lại tiếng mời gọi ban đầu của Đấng yêu thương mình, để chính Thiên Chúa sẽ tái lập, phục hồi, chữa lành và làm mới lòng nhiệt tâm tông đồ.
- Làm mới, xây dựng lại tương quan cá vị với Thiên Chúa:
Đã gọi là xây dựng lại thì người tông đồ không thể giữ nguyên “tình trạng cũ” trong tâm tình thờ phượng và hình thức tương quan với Thiên Chúa. Nhưng buộc họ tiên quyết canh tân lại tâm tình khao khát thuộc trọn về Chúa, tìm kiếm và thi hành ý Chúa trong cuộc sống của mình, chính tâm tình đầy ước muốn và cầu xin được Chúa hoán cải, thì chính Ngài sẽ biến đổi người tông đồ, vì như Chúa đã nói: ai tìm sẽ thấy, ai ngõ cửa thì sẽ mở cho (Mt7, 7). Người tông đồ không chỉ dừng lại ở lòng khao khát và lời cầu xin, nhưng hãy đi đôi với hành động, bản thân nỗ lực cộng tác với ơn Chúa, quảng đại hơn thời gian dành cho Chúa hơn là tranh thủ làm việc Chúa. Thật buồn vì không ít người khi chờ đợi đến các giờ liêng liêng, tranh thủ “chạy” thêm cho được một số việc. Riêng người tông đồ nữ tu Mến Thánh Giá năng suy gẫm, hiểu biết, yêu mến, noi theo cách đặc biệt Đối Tượng Duy Nhất của lòng trí mình là Đức Giêsu Kitô Chịu Đóng Đinh. Chúng ta đừng đợi khi có lòng sốt sắng đã rồi đến với Chúa, nhưng người tông đồ trước tiên hãy van nài, cầu nguyện, liên lỉ tìm kiếm Chúa, khao khát được thuộc về Chúa, với lòng tin tưởng, chắc chắn, người tông đồ sẽ được đụng chạm đến Chúa, được bình an và ơn soi dẫn trên bước đường tông đồ của mình để can đảm sống hoàn toàn cho Chúa và cho tha nhân.
- Người tông đồ Mến Thánh Giá với đặc sủng, linh đạo theo gương Đấng Sáng Lập:
Gương sống tông đồ sáng chói của Đấng Sáng Lập để lại cho những nữ tu mến Thánh giá là sự kết hợp mật thiết giữa đời sống cầu nguyện và hoạt động sứ vụ, mà Đối Tượng Duy Nhất của lòng trí họ chính là Đức Giêsu Kitô Chịu Đóng Đinh – Đấng đã sống và hiến mạng cho nhân loại. Ngài là Đấng mà người nữ tu Mến Thánh Giá hằng ngày chiêm ngắm, và noi theo, và mời gọi họ muốn nên đồng hình đồng dạng với Người, vì thế, người tông đồ Mến Thánh Giá là người tránh lối sống xa hoa, tiện nghi, nhưng nổi bật lên hình ảnh tông đồ người nữ tu mang đậm “chất” Mến Thánh Giá khi yêu mến đời sống cô tịch, chìm sâu trong kết hợp với Chúa Giêsu chịu thương khó trong nguyện đường lẫn trong cuộc sống, gánh vác thập giá đời mình và thập giá sứ vụ kết hiệp với thánh giá Chúa làm nên hy lễ để chứng minh tình yêu thực tiễn dành cho Con Thiên Chuá và cứu rỗi các linh hồn. Nữ tu Mến Thánh Giá chấp nhận đời sống lội ngược dòng với tinh thần can trường, nghèo khó, giản dị đơn sơ, trung hậu (HC Điều 6), dấn thân nơi những vùng ngoại biên, gian nan, đến với những con người bất hạnh mà không ngại hy sinh, gian khổ theo tinh thần dấn thân nhiệt tâm của Đấng Sáng lập và truyền thống của Dòng.
1.3 Đời sống cộng đoàn: nơi lý tưởng phục hồi nhiệt tâm tông đồ:
Để một cộng đoàn có nhiệt tâm tông đồ mỗi thành viên nơi ấy luôn sống đức tin có Chúa luôn hiện diện và mỗi chị đặt Chúa là trung tâm cộng đoàn và là cùng đích sứ vụ tông đồ, từ đó, tất cả chị em có cùng cái nhìn, tiếng nói chung, và tinh thần hiệp thông sâu xa. Chính khi mỗi chị em, mỗi cộng đoàn sống niềm tin sống động, cụ thể, sẵn sàng để Chúa hướng dẫn sứ vụ của mình, mỗi người sẽ được hoán cải liên tục bởi ơn Chúa, dễ dàng từ bỏ cái tôi, ý riêng, cũng như mong cầu hư danh để một mực trung thành, nhiệt tâm tông đồ vì một lòng muốn làm sáng Danh Chúa và yêu mến các linh hồn. Chính sự đồng lòng, chia sẽ, nâng đỡ trong cộng đoàn là động lực giúp tinh thần tông đồ mỗi chị em luôn được nuôi dưỡng, phục hồi, làm mới. Mọi khó khăn, gian nan, mệt mỏi do tính chất tông đồ ngày nay đòi hỏi cũng được san sẻ, vượt qua, hiểu thấu cách dễ dàng.
Lời mời gọi: Ở lại với Chúa, phục hồi nhiệt tâm tông đồ và được sai đi.
Dưới ánh sáng hướng dẫn của Giáo Hội, đời sống và công việc tông đồ chỉ thực sự sinh hoa trái khi bắt nguồn từ việc ở lại với Chúa, trở về tương quan cá vị với Đức Kitô, như chính cố Giáo Hoàng Phanxicô đã nói “ không có Chúa chúng ta không thể làm được gì”, vì hoạt động tông đồ mà thiếu cầu nguyện thì dễ trở thành duy hoạt động, cạn kiệt nội lực thiêng liêng, dần mất phương hướng.
Cách riêng, trong ơn gọi Mến Thánh Giá linh thiêng, đi theo linh đạo Đấng Sáng Lập để lại, chị em Mến Thánh Giá trở về với đối tượng duy nhất là Đức Kitô Chịu Đóng Đinh để kín múc sức sống nơi Thánh Giá – nguồn mạch tình yêu tự hiến, tìm lại căn tính, chữa lành sự mệt mỏi lạnh nhạt nội tâm và được phục hồi nhiệt tâm tông đồ, tìm lại lý tưởng dâng hiến đích thực, cũng như trở về với đặc sủng, linh đạo, sứ mạng của Đấng Sáng Lập , để những nơi người nữ tu Mến Thánh Giá ra đi loan báo Tin mừng, dù hy sinh âm thầm, nhưng mang dấu ấn Thánh Giá ơn cứu độ, niềm vui Tin Mừng và trở nên chứng tá sống động cho thế giới hôm nay.
Nguyện xin Mẹ Maria – người tông đồ luôn sống Linh Đạo Thánh Giá trong suốt hành trình đức tin của mình, xin Mẹ chuyển cầu cùng Chúa cho chúng con trên con đường theo Mẹ yêu Chúa, phụng sự Chúa, sống chứng tá đức tin trung kiên vì công cuộc loan báo Tin Mừng trong ơn gọi Mến Thánh Giá.
Nữ tu Maria Nguyễn Thành Tín
Hội dòng Mến Thánh Giá Huế
