
(Hc 15:15-20; 1 Cr 2:6-10; Mt 5:17-37)
Hầu hết mọi người trong chúng ta thường xem luật lệ như là điều cản trở sự tự do của mình. Chúng ta nhìn điều răn hay luật lệ của Thiên Chúa và Giáo Hội như một gánh nặng hơn là phương tiện, hay đúng hơn kim chỉ nam, để thăng tiến trên con đường trọn hảo. Các bài đọc lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta suy gẫm về tầm quan trọng và mục đích của điều răn và huấn lệnh của Thiên Chúa.
Trong bài đọc 1, tác giả sách Đức Huấn Ca cho chúng ta thấy việc tuân giữ các điều răn của Thiên Chúa là ‘một quyết định để chọn làm điều đẹp ý Đức Chúa’: “Nếu con muốn thì hãy giữ các điều răn mà trung tín làm điều đẹp ý Đức Chúa” (Hc 15:15). Nhiều lần trong cuộc sống, chúng ta giữ luật hay tạo ra những luật làm đẹp lòng người hơn là làm đẹp lòng Thiên Chúa. Chúng ta giữ luật vì sợ hơn là vì yêu. Ví dụ như chúng ta đi lễ mỗi Chúa nhật là vì chúng ta sợ phạm tội bỏ lễ ngày Chúa nhật hơn là vì yêu Chúa nên chúng ta đến với Ngài. Mục đích của luật là để giúp chúng ta biết rằng mình có tự do để chọn lựa: theo hay không theo luật. Tác giả Sách Đức Huấn Ca cho chúng ta biết điều này trong những lời sau: “Trước mặt con, Người đã đặt lửa và nước, con muốn gì, hãy đưa tay ra mà lấy. Trước mặt con người là cửa sinh cửa tử, ai thích gì, sẽ được cái đó” (Hc 15:16-17). Nếu chúng ta chọn sống theo huấn lệnh của Đức Chúa, chúng ta chọn cho mình con đường sống, chọn cho mình sự sống vĩnh cửu. Chi tiết này khuyến cáo chúng ta về những chọn lựa mà chỉ mang cho mình sự sống tạm thời trên thế gian này mà đánh mất sự sống vĩnh cửu. Thật vậy, cái nhìn của con người thì giới hạn, chỉ nhìn thấy cái gì hữu hạn trong thời gian chứ không nhìn thấy được sự vô hạn của vĩnh cửu. Để đạt được một chọn lựa đúng, chọn lựa mang lại sự sống vĩnh cửu, con người cần đi theo huấn lệnh của Đức Chúa.
Về phần mình, thánh Phaolô chỉ cho các tín hữu Côrintô biết tất cả những gì ngài giảng dạy cho họ “là một lẽ khôn ngoan, nhưng không phải là lẽ khôn ngoan của thế gian, cũng không phải của các thủ lãnh thế gian này, là những kẻ sớm muộn gì cũng phải diệt vong. Trái lại, chúng tôi giảng dạy lẽ khôn ngoan nhiệm mầu của Thiên Chúa đã được giữ bí mật, lẽ khôn ngoan mà Thiên Chúa đã tiền định từ trước muôn đời, cho chúng ta được vinh hiển” (1 Cr 2:6-7). Sự khôn ngoan này không thể được cân, đo, đong, đếm theo tiêu chuẩn con người. Nó được giấu kín khỏi những người tự cho mình là thông thái, là khôn ngoan theo tiêu chuẩn con người, mà chỉ được mặc khải cho những ai yêu mến Thiên Chúa. Chi tiết này cho chúng ta thấy rằng chỉ những ai yêu mến Thiên Chúa mới hiểu được tầm quan trọng của luật Chúa và sự ‘ngu dại’ của thập giá Chúa Giêsu, hay nói cụ thể hơn là những đau khổ phải chịu khi sống theo luật Thiên Chúa.
Bài Tin Mừng hôm nay trình bày cho chúng ta hình ảnh Chúa Giêsu như là một Môsê mới, một Người không chỉ ban luật nhưng cắt nghĩa luật một cách mới mẽ. Chúng ta có thể chia bài Tin Mừng làm ba phần: phần 1 (5:17-19) nói về khẳng định của Chúa Giêsu về tầm qua trọng của luật củ; phần 2 (5:20) là tiêu chuẩn luân lý mới Chúa Giêsu đặt ra cho các môn đệ; và phần 3 (5:21-37) là những áp dụng của tiêu chuẩn luân lý mới để giải thích những luật củ mà những người Pharisêu sống và bảo vệ.
Trong phần 1, chúng ta thấy thái độ rất tích cực và cảm thông của Chúa Giêsu đối với di sản của người Do Thái là toàn bộ mặc khải của Cựu Ước dù cho nhiều lần Ngài chỉ trích một vài phát triển mà Ngài xem là có hại cho đời sống yêu thương của con người: “Anh em đừng tưởng Thầy đến để bãi bỏ Luật Môsê hoặc lời các ngôn sứ. Thầy đến không phải là để bãi bỏ, nhưng là để kiện toàn. Vì, Thầy bảo thật anh em, trước khi trời đất qua đi, thì một chấm một phết trong Lề Luật cũng sẽ không qua đi, cho đến khi mọi sự được hoàn thành” (Mt 5:17-19). Chúng ta có thể hiểu ý nghĩa của những lời trên theo hai nghĩa sau: (1) Toàn bộ Cựu Ước có giá trị về tôn giáo cho những người theo Chúa Giêsu và phải được tiếp tục bảo quản, cầu nguyện, học hỏi và giảng dạy; (2) những gì trong luật Cựu Ước vẫn ràng buộc cách trực tiếp những người theo Chúa Giêsu. Những điều này được thực hiện nơi chính cuộc sống của Chúa Giêsu. Ngài sống di sản của dân tộc Ngài và làm cho mọi sự được hoàn thành nơi chính cuộc sống Ngài. Nói cách khác, những gì được viết trong Cựu Ước tìm thấy sự viên mãn và hoàn thành trong Đức Kitô. Là những người theo Chúa Giêsu, chúng ta được mời gọi tuân giữ cách cặn kẽ những huấn lệnh của Thiên Chúa vì, “ai bãi bỏ dù chỉ là một trong những điều răn nhỏ nhất ấy, và dạy người ta làm như thế, thì sẽ bị gọi là kẻ nhỏ nhất trong Nước Trời. Còn ai tuân hành và dạy làm như thế, thì sẽ được gọi là lớn trong Nước Trời” (5:19).
Sau khi chỉ ra tầm quan trọng của luật củ, Chúa Giêsu khuyến cáo các môn đệ rằng khi họ theo Ngài họ không chỉ đơn thuần sống theo mặt chữ của luật như những người Pharisêu, mà phải sống ‘tinh thần’ luật được Thiên Chúa đặt đinh khi trao ban luật cho con người: “Vậy, Thầy bảo cho anh em biết, nếu anh em không ăn ở công chính hơn các kinh sư và người Pharisêu, thì sẽ chẳng được vào Nước Trời” (5:20). Theo các học giả Kinh Thánh, câu này một cách rõ ràng là được Thánh Mátthêu thêm vào với mục đích cung cấp đề tài chính cho toàn bộ chương, đó là sự ‘công chính hơn’ của những người theo Chúa Giêsu. Đây chính là một trong những đặc tính của các Kitô hữu tiên khởi. Đối với Thánh Mátthêu, bản chất của những gì Chúa Giêsu mang đến là một nền luân lý và một sự công bình trỗi vượt hơn. Những gì Ngài mang đến là một nền đạo đức luân lý. Những người địch thủ của Ngài là những người thừa kết của người Pharisêu ở Jamnia. Ở đây, chúng ta cần lưu ý rằng Chúa Giêsu không nói cách minh nhiên là người Pharisêu sẽ không được vào Nước Trời. Câu này nhằm mục đích khuyến cáo các Kitô hữu phải sống theo tiêu chuẩn Ngài mang đến, nếu họ muốn vào Nước Trời.
Phần 3 là những lời giải thích của Chúa Giêsu về những luật được ghi chép lại Torah và rất quan trọng trong đời sống thường ngày của người Do Thái. Bài Tin Mừng hôm nay trình bày cho chúng ta việc Chúa Giêsu giải thích bốn trong sáu điều luật quan trọng, đó là về giận dữ, ngoại tình, ly dị và thề hứa. Tất cả đều đi theo một cấu trúc: quy chiếu về luật củ (“anh em đã nghe luật dạy rằng”), tiêu chuẩn mới được Chúa Giêsu đặt ra (“còn Thầy, Thầy bảo anh em”), việc cụ thể cần phải thực hiện. Chúng ta cùng nhau suy gẫm cách ngắn gọn những điều Chúa Giêsu dạy các môn đệ.
Đầu tiên là việc giận người khác. Chúng ta thấy trong luật củ chỉ nói đến việc giết người. Nhưng Chúa Giêsu đưa các môn đệ về ‘nguồn gốc’ của việc giết người đó là giận dữ: “Anh em đã nghe Luật dạy người xưa rằng: Chớ giết người; ai giết người, thì đáng bị đưa ra toà. Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: Bất cứ ai giận anh em mình, thì đáng bị đưa ra toà. Ai mắng anh em mình là đồ ngốc, thì đáng bị đưa ra trước Thượng Hội Đồng. Còn ai chửi anh em mình là quân phản đạo, thì đáng bị lửa hoả ngục thiêu đốt” (5:21-22). Khi chúng ta giận một ai, dù không ‘giết họ’ một cách thể lý, chúng ta đã giết họ trong trái tim chúng ta. Cụ thể hơn là chúng ta đã loại trừ người đó ra khỏi tình yêu của mình. Giải pháp Chúa Giêsu đưa ra cho các môn đệ khi giận một ai đó hoặc làm một ai đó giận là hoà giải và tha thứ: “Vậy, nếu khi anh sắp dâng lễ vật trước bàn thờ, mà sực nhớ có người anh em đang có chuyện bất bình với anh, thì hãy để của lễ lại đó trước bàn thờ, đi làm hoà với người anh em ấy đã, rồi trở lại dâng lễ vật của mình” (5:23-24). Sự hoà giải và tha thứ là ‘tiền đề’ quan trong trong việc thờ phượng. Nói cách khác, để của lễ dâng lên được Thiên Chúa chấp nhận, chúng ta cần phải có một con tim biết tha thứ và cảm thông.
Vấn đề thứ hai là ngoại tình. Như chúng ta biết, trong Cựu Ước, ngoại tình thường được sử dụng như hình ảnh ám chỉ sự bội tín với Thiên Chúa của dân Israel. Họ thường chạy theo tôn thờ những ngẫu tượng. Trong bài Tin Mừng, Thánh Mátthêu nói đến hành vi ngoại tình trong đời sống vợ chồng: “Anh em đã nghe Luật dạy rằng: Chớ ngoại tình. Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: Bất cứ ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn, thì trong lòng đã ngoại tình với người ấy rồi” (5:27-28). Trong những lời này, Chúa Giêsu đi từ cấp độ của hành động đến cấp độ của ý hướng thèm muốn. Nói cách khác, khi một người quyết định phạm một hành vi xấu, dù chưa thực hiện nó mà chỉ mới có trong ý hướng, thì hành vi xấu đó đã hiện hữu rồi và chỉ thêm ‘trầm trọng’ bằng việc thực hiện nó. Chúa Giêsu đưa ra giải pháp là phải chặn ngay tại gốc, cắt tận gốc rễ chứ không chỉ cắt cái ngọn: “Nếu mắt phải của anh làm cớ cho anh sa ngã, thì hãy móc mà ném đi; vì thà mất một phần thân thể, còn hơn là toàn thân bị ném vào hoả ngục. Nếu tay phải của anh làm cớ cho anh sa ngã, thì hãy chặt mà ném đi; vì thà mất một phần thân thể, còn hơn là toàn thân phải sa hoả ngục” (5:29-30). Những lời này được tìm thấy trong Tin Mừng Thánh Máccô (9:43-47), nhưng không tìm thấy trong Tin Mừng Thánh Luca, có thể là do dễ dàng bị hiểu lầm. Điều Thánh Mátthêu ám chỉ trong những lời trên là Chúa Giêsu mời gọi các môn đệ của Ngài sắp xếp lại vị trí của bậc thang giá trị. Sự hợp lý của những quyết định và chọn lựa luân lý rất quan trọng, đó là thà mất một phần của sự tự do mang tính luân lý của mình hơn là đánh mất toàn bộ sự tự do của mình.
Thứ ba là vấn đề ly dị: “Luật còn dạy rằng: Ai rẫy vợ, thì phải cho vợ chứng thư ly dị. Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: ngoại trừ trường hợp hôn nhân bất hợp pháp, bất cứ ai rẫy vợ là đẩy vợ đến chỗ ngoại tình; và ai cưới người đàn bà bị rẫy, thì cũng phạm tội ngoại tình” (5:31-32). Trong vấn đề này, chúng ta thấy nền tảng của đời sống xã hội của con người liên quan đến, đó là đời sống gia đình [hôn nhân]. Đây là một vấn đề quan trọng. Triết gia Aristotle nói về ly dị như sau: “Ly dị đối với gia đình giống như nội chiến đối với một quốc gia.” Bởi vì vấn đề ly dị thường là một vấn đề mang lại nhiều đau thương và nước mắt, điều cần thiết phải nhớ rằng ý định sâu xa của Chúa Giêsu không phải là mang lại nỗi đau, nhưng là bắt đầu một ý tưởng thật sáng tỏ và cao sang của các mối tương quan con người, một viễn cảnh đẹp về hôn nhân như là một giao ước tình yêu cá vị giữa chồng với vợ, điều mà phản chiếu tương quan giao ước giữa Thiên Chúa với dân Ngài. Đáng buồn thay, viễn cảnh đẹp này về hôn nhân không luôn luôn được lưu giữ trong con tim con người.
Đề tài cuối cùng là thề hứa: “Anh em còn nghe Luật dạy người xưa rằng: Chớ bội thề, nhưng hãy trọn lời thề với Đức Chúa” (5:33). Những lời này cho thấy trong luật củ, trọn lời thề với Đức Chúa là điều quan trọng nhất. Điều này cho thấy tương quan với Thiên Chúa là nền tảng của tương quan với con người. Trước vấn đề thề hứa, Chúa Giêsu mời gọi các môn đệ “đừng thề chi cả. Đừng chỉ trời mà thề, vì trời là ngai Thiên Chúa. Đừng chỉ đất mà thề, vì đất là bệ dưới chân Người. Đừng chỉ Giêrusalem mà thề, vì đó là thành của Đức Vua cao cả. Đừng chỉ lên đầu mà thề, vì anh không thể làm cho một sợi tóc hoá trắng hay đen được. Nhưng hễ ‘có’ thì phải nói ‘có,’ ‘không’ thì phải nói ‘không’; thêm thắt điều gì là do ác quỷ” (5:34-37). Chúa Giêsu muốn các môn đệ của Ngài sống thật, không giả dối. Theo các học giả Kinh Thánh, trong vấn đề này, Chúa Giêsu lặp lại cho các môn đệ về Mười Điều Răn. Mười Điều Răn không nói gì về vấn đề thề hứa, như chỉ nói rằng, ‘ngươi không được kêu tên Thiên Chúa vô cớ,’ và ‘ngươi không được làm chứng gian.’ Điều này có nghĩa là chúng ta phải luôn nói sự thật trong mọi sự liên quan đến Thiên Chúa và anh chị em mình. Chúa Giêsu nối kết hai điều răn lại với nhau bằng việc nói rằng chúng ta không được dùng tên Đức Chúa mà thề hoặc thay thế bất kỳ điều gì cho danh Ngài. Chỉ đơn giản là nói sự thật. Là những người theo Chúa Giêsu, chúng ta phải đem lời Ngài ra thực hiện, đó là chỉ nói sự thật, không nói dối.
Lm. Antôn Nguyễn Ngọc Dũng, SDB
