Đồng Hình, Đồng Dạng Với Đức Kitô Chịu Đóng Đinh Cảm Hứng Từ Các Thư Của Thánh Phaolô Và Linh Đạo Mến Thánh Giá Huế

ĐỒNG HÌNH, ĐỒNG DẠNG VỚI ĐỨC KITÔ CHỊU ĐÓNG ĐINH

 CẢM HỨNG TỪ CÁC THƯ CỦA THÁNH PHAOLÔ VÀ

 LINH ĐẠO MẾN THÁNH GIÁ HUẾ

Dẫn nhập

Trong đời sống đức tin Kitô giáo, Thập Giá không chỉ là một biểu tượng tôn giáo, mà còn là mầu nhiệm sâu thẳm diễn tả tình yêu của Thiên Chúa dành cho nhân loại. Đặc biệt, trong các thư của thánh Phaolô, thập giá trở thành trung tâm của sứ điệp Tin Mừng: một sự đảo ngược triệt để mọi giá trị trần gian, mạc khải sự khôn ngoan và quyền năng của Thiên Chúa qua một cái chết tưởng chừng như thất bại. Tư tưởng thần học của ngài về thập giá không những đặt nền móng cho thần học cứu độ của Hội Thánh, mà còn soi sáng con đường đời sống thánh hiến hôm nay, cách riêng trong linh đạo Mến Thánh Giá – linh đạo đặt trọng tâm nơi mầu nhiệm tình yêu cứu độ qua khổ đau.

1. Thập Giá: Trung tâm sứ điệp của thánh Phaolô

Thập giá, trong cái nhìn của thánh Phaolô, không phải là một sự kiện cô lập trong lịch sử, mà là cốt lõi của “Tin Mừng Đức Giêsu Kitô” (x. Rm 1,1-4). Đối với ngài, Đức Kitô chịu đóng đinh là điểm quy chiếu của mọi suy tư thần học và mục vụ.

  •   Sự nghịch lý của thập giá

Thánh Phaolô nhìn thập giá như một nghịch lý: “Chúng tôi rao giảng một Đấng Kitô bị đóng đinh, điều mà người Do Thái cho là ô nhục không thể chấp nhận, và dân ngoại cho là điên rồ” (1 Cr 1,23). Nhưng chính trong sự điên rồ ấy lại ẩn chứa quyền năng và sự khôn ngoan của Thiên Chúa (x. 1 Cr 1,24). Đối với thánh Phaolô, thập giá lật ngược mọi kỳ vọng nhân loại: chiến thắng không đến từ sức mạnh, nhưng đến từ việc tự hạ; vinh quang không từ sự hiển hách, mà từ việc đổ máu và yêu thương đến cùng.

Trong một thế giới hiện đại đề cao năng suất, thành quả và tiện nghi, người sống đời thánh hiến cũng dễ bị cám dỗ bỏ qua con đường thập giá. Tuy nhiên, như Đức Bênêđictô XVI đã nói: “Ai muốn loại bỏ đau khổ khỏi đời sống mình, thì cũng loại bỏ Thiên Chúa ra khỏi đời sống mình” (Spe Salvi – Niềm hy vọng cứu độ, số 37). Điều này cho thấy rằng: không phải đau khổ là điều đáng chuộng, nhưng chính trong đau khổ tự hiến, tình yêu cứu độ của Thiên Chúa được mặc khải trọn vẹn nơi thập giá Đức Kitô. Chấp nhận thập giá không phải là tôn thờ đau khổ, mà là mở lòng đón nhận tình yêu biến đổi.

  •  Thập giá: Nơi mạc khải tình yêu cứu độ

Đối với thánh Phaolô, thập giá là biểu hiện tuyệt đỉnh của tình yêu Thiên Chúa: “Thế mà Đức Ki-tô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi, đó là bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta” (Rm 5,8). Tình yêu nơi thập giá không phải là tình cảm chóng qua, nhưng là sự tự hiến trọn vẹn đến chết.

Bước theo linh đạo Mến Thánh Giá của Đức cha Lambert de la Motte, tôi nhận thấy rằng cả thánh Phaolô hay Đức cha đều mời gọi mỗi người chúng ta trở nên “đồng hình đồng dạng với Đức Kitô chịu đóng đinh” mỗi ngày một hơn, cách riêng là đối với người nữ tu Mến Thánh Giá. Mến thánh giá – có nghĩa là không chỉ yêu Chúa trong trong tâm trí, tư tưởng nhưng phải yêu Chúa bằng động từ “Mến thánh giá” ngay trong chính đời sống mình, trong những chọn lựa của ngày sống.  Khi thập giá thấm nhuần vào từng chiều kích như đời sống cầu nguyện, đời sống huynh đệ cộng đoàn, môi trường sứ mạng, thì thập giá đó không còn là gánh nặng, mà là “dấu chỉ của tình yêu lớn hơn” (Ga 15,13) mà tôi gửi đến cho nhân loại. Hay nói cách khác, đó không còn là thập giá nữa nhưng trở thành Thánh giá vinh quang cho muôn dân.

Thế nhưng với giới hạn của phận người, đôi khi ta không dễ dàng từ bỏ những thú vui, những ham muốn, những sở thích cá nhân để sống cho một Thiên Chúa đã sống cách đây hơn hai ngàn năm trước? Làm sao có thể tin vào những nghịch lý của con tim khi lý trí cho thấy những điều mình đang tin là trái ngược với bình thường? Câu trả lời chỉ có thể là: nhờ ơn Chúa! – “Ơn ta đủ cho con” (2Cr 12,9) – chính Chúa là sức mạnh âm thầm giúp con người yếu đuối dám tin, dám yêu, và dám đón nhận mọi giới hạn của mình và của người với niềm tín thác. Chỉ cậy vào ơn Chúa, tôi mới có thể dễ dàng vươn cao, vươn xa trên con đường Tình Yêu Thập Giá.

2.  Hiệp thông với Đức Kitô chịu đóng đinh: Căn tính Kitô hữu và đời thánh hiến

a.       Chết cho tội lỗi – sống cho Thiên Chúa

Thánh Phaolô khẳng định rằng, qua bí tích Thánh Tẩy, người Kitô hữu được thông phần vào cái chết và sự phục sinh của Đức Kitô[1]. Như thế, thập giá không chỉ là một biến cố lịch sử, mà trở thành một thực tại được tái diễn không ngừng trong cuộc đời mỗi tín hữu, cách cụ thể là nơi Thánh lễ mỗi ngày. Nơi đó, người tín hữu được mời gọi cùng chết với Đức Kitô, từ bỏ con người cũ để sống một đời sống mới trong “mạch máu” của hàng vương đế và theo sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần.

Đối với người sống đời sống thánh hiến, thập giá ấy lại càng mang tính tận căn: đó  không chỉ là từ bỏ những tiện nghi vật chất, mà còn là sự lột bỏ sâu thẳm của cái tôi – những ước muốn, ý riêng, danh dự cá nhân. Đức Thánh Cha Phanxicô từng nói với các tu sĩ rằng: “Không có thập giá, chúng ta không thể là môn đệ thật” (Evangelii Gaudium – Niềm Vui Tin Mừng, số 94). Quả thật, bước theo Đức Kitô không phải là đi tìm sự an nhàn, nhưng là chấp nhận thua thiệt vì Tin Mừng, là vui lòng chịu thiệt thòi để sống đúng căn tính thánh hiến với một niềm hy vọng sâu sắc.

Chết đi cho tội lỗi – sống cho Thiên Chúa là sống trong niềm hy vọng, là bước đi với trái tim thanh thoát, lòng dũng cảm và niềm tin tưởng. Là hành trình vượt qua bóng tối của cái tôi để đi vào ánh sáng của Thập Giá, nơi niềm hy vọng đích thực được khai sinh. Với linh đạo Mến Thánh Giá, việc “chết đi cho tội lỗi và sống cho Thiên Chúa” chính là chọn lựa Thập Giá làm bạn đường, là vác thập giá mỗi ngày trong âm thầm và tín thác, để từ đó trở nên dấu chỉ sống động của Tình Yêu Cứu Độ, niềm hy vọng giữa lòng thế giới đầy những vết thương, bất an và đổ vỡ.

b.       Mang nơi thân mình dấu tích của thập giá

Thánh Phaolô thổ lộ một kinh nghiệm rất cá vị: “vì tôi mang trên mình tôi những dấu tích của Đức Giê-su” (Gl 6,17). Đây không chỉ là dấu đau khổ, mà là dấu yêu thương: tình yêu của người được biến đổi hoàn toàn bởi mầu nhiệm thập giá.

Đức cha Lambert cũng mời gọi người nữ tu Mến Thánh Giá sống sự biến đổi này, không chỉ trong cầu nguyện mà trong phục vụ tha nhân, đặc biệt nơi những người đau khổ, bị bỏ rơi, nơi những người nghèo. Như thánh Phaolô, người nữ tu trở nên “đồng hình đồng dạng với Đức Kitô trong cái chết của Người” (Pl 3,10), để sự sống phục sinh được tỏ hiện qua cuộc đời mình.

  1. Thập Giá trong linh đạo Mến Thánh Giá: Linh đạo của tình yêu tự hiến

Linh đạo Mến Thánh Giá trong các thư của thánh Phaolô và trong ơn linh hứng của Thiên Chúa dành cho Đấng sáng lập – Đức cha Pierre Lambert de la Motte, mang dấu ấn rất đặc thù là: kết hiệp mật thiết với Đức Kitô chịu đóng đinh trong đời sống thường ngày. Mối kết hiệp ấy không chỉ dừng lại ở sự chiêm niệm nội tâm, nhưng được cụ thể hóa bằng một lối sống nhằm “đạt tới sự hiểu biết, yêu mến, và hiến thân trọn vẹn cho Chúa Kitô, bằng việc chuyên chú suy niệm, tưởng nhớ và noi theo cuộc đời lữ thứ và hy sinh của Người” (HC 3). Như vậy, Thập Giá trong linh đạo này không chỉ là một biểu tượng hay tư tưởng thần học, mà là một kinh nghiệm sống động: một cách sống kết hiệp với Đức Kitô chịu đóng đinh qua từng công việc thường nhật, từng hy sinh nhỏ bé, từng việc phục vụ âm thầm. Đó là linh đạo vừa chiêm niệm vừa hoạt động, vừa kết hiệp nội tâm vừa dấn thân phục vụ – diễn tả rõ nét mầu nhiệm Thập Giá trong đời sống tận hiến giữa trần gian.

a. “Ở lại với Đấng chịu đóng đinh”

Câu nói quen thuộc của thánh nữ Catarina thành Siena: “Con hãy ở lại dưới chân thập giá, và ở đó con sẽ học được mọi điều” đã đánh động bước chân tôi khi chiêm niệm về mầu nhiệp thập giá. Linh đạo Mến Thánh Giá cũng mời gọi người nữ tu “ở lại” với Đức Kitô chịu đóng đinh, không trốn tránh đau khổ, nhưng nhìn thập giá như nơi mạc khải tình yêu lớn lao của Thiên Chúa và cũng nhờ thập giá mà vươn mình lên khỏi những nhỏ nhen của phận người để sống và trở thành “hương thơm ngào ngạt” dâng lên Thiên Chúa mỗi ngày.

Thánh Phaolô không giấu giếm những thử thách mà ngài phải trải qua: “Năm lần tôi bị người Do Thái đánh roi, ba lần bị đánh đòn, một lần bị ném đá…” (x.2Cr 11,24-25). Nhưng ngài không oán trách, vì với thánh Phaolô, đau khổ vì Đức Kitô là một hồng ân: nhờ Đức Ki-tô, anh em đã được phúc chẳng những là tin vào Người, mà còn được chịu đau khổ vì Người (Pl 1,29). Điều ấy cũng là hành trình thường ngày của tôi: đón nhận đau khổ như phần tất yếu của tình yêu – tình yêu trưởng thành trong thử thách và được tinh luyện bằng lửa dâng hiến.

b. Hiến mình vì tình yêu cứu độ

Cốt lõi linh đạo Mến Thánh Giá là tình yêu tự hiến, được kín múc nơi Đấng đã “yêu tôi và hiến mạng vì tôi” (Gl 2,20). Người nữ tu không giữ lại gì cho mình, nhưng sống hoàn toàn cho Thiên Chúa và tha nhân – theo mẫu gương của Đức Kitô trên thập giá, Đấng đã trao ban chính mình không giữ lại điều gì.

Điều này được Đức Thánh Cha Phanxicô diễn tả trong tông huấn Gaudete et Exsultate – Hãy Vui Mừng Hoan Hỷ: “Thánh thiện không là điều gì xa vời, nhưng là sống những việc thường nhật với một tình yêu phi thường.” Không chỉ riêng linh đạo Mến Thánh Giá, nhưng mọi ơn gọi tận hiến đều được mời gọi sống chiều kích thập giá nơi cộng đoàn,  bổn phận, nơi những thiếu thốn của đời thường – trong niềm vui phục vụ và tự nguyện hiến thân. “Con tự nguyện bước theo Chúa Giêsu Kitô trên con đường thánh giá, để cùng với Ngài hiến thân phụng sự Cha và phục vụ anh chị em đồng loại” (HC 36)

Chính khi yêu thương trong âm thầm, chấp nhận bị hiểu lầm mà không lên tiếng, chịu lùi bước để người khác bước lên…, thì thập giá mới thực sự trở thành con đường sống động dẫn đến sự sống. Như lời Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI khẳng định: “Không có tình yêu nào không mang thập giá, không có thập giá nào không được tình yêu chiếu sáng” (Deus Caritas Est – Thiên Chúa Là Tình Yêu, số 13).

c. Sống chứng nhân hy vọng giữa thế gian

Thập giá không đóng khung người tận hiến trong nỗi u sầu hay khổ chế đơn thuần, nhưng mở ra một con đường hy vọng. Vì thập giá là khởi đầu của sự sống mới, là cửa ngõ dẫn đến Phục Sinh. Tôi cũng được mời gọi trở nên dấu chỉ của hy vọng giữa lòng thế giới bị tổn thương, nên những chứng nhân mãnh liệt hơn về niềm hy vọng cho thế giới. Thế giới hôm nay, sau những cơn khủng hoảng toàn cầu về dịch bệnh, chiến tranh và những đổ vỡ về niềm tin, đang rất cần những chứng nhân của hy vọng âm thầm mà bền bỉ – những người bước đi trong ánh sáng Thập giá, không phải để trốn tránh đau khổ, mà để đem tình yêu chữa lành và hy vọng đến những vùng tối của nhân loại. Người nữ tu Mến Thánh Giá, bằng đời sống cầu nguyện, phục vụ và hiến thân âm thầm, chính là một  nhân chứng hành hương: mang nơi mình thập giá, nhưng đồng thời mở ra con đường Phục Sinh. Bằng cuộc sống “không còn là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi” (Gl 2,20), hãy góp phần viết tiếp Tin Mừng hy vọng trong từng ngõ ngách âm thầm trong nhịp sống bình thường của cuộc sống.

Một lần nữa, lời chứng của thánh Phaolô: “Tôi sống, nhưng không còn là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi” (Gl 2,20), trở thành bản lề cho đời sống thánh hiến – cách riêng là với những người chọn linh đạo Mến Thánh Giá: một cuộc sống không quy hướng về bản thân, mà là quy Kitô, để Đức Kitô chịu đóng đinh sống trong mình, hành động qua mình, yêu thương và cứu độ qua từng nghĩa cử, lời cầu nguyện và hy sinh nhỏ bé hằng ngày.

Kết luận:

Hành trình “đồng hình, đồng dạng với Đức Kitô chịu đóng đinh” không chỉ là một lý tưởng thần học, nhưng là một lộ trình sống cụ thể, đòi hỏi sự hoán cải liên lỉ và một tình yêu ngày càng trưởng thành. Qua tư tưởng của thánh Phaolô, thập giá không còn là dấu chỉ của thất bại, nhưng trở thành nơi mạc khải trọn vẹn tình yêu cứu độ của Thiên Chúa, đồng thời là khuôn mẫu cho đời sống Kitô hữu và cách riêng cho người sống đời thánh hiến.

Trong linh đạo Mến Thánh Giá Huế, con đường ấy được cụ thể hóa qua việc kết hiệp mật thiết với Đức Kitô chịu đóng đinh trong từng giây phút đời thường: từ cầu nguyện, đời sống cộng đoàn đến sứ mạng phục vụ. Chính khi dám “chết đi” cho cái tôi, khi can đảm đón nhận những hy sinh âm thầm vì tình yêu, người nữ tu mới thực sự trở nên dấu chỉ sống động của Đức Kitô giữa lòng thế giới.

Như vậy, sống linh đạo Thập Giá không phải là tìm kiếm đau khổ, nhưng là chọn lựa yêu thương đến cùng, ngay cả khi tình yêu ấy phải đi qua thập giá. Đó cũng là con đường dẫn đến niềm hy vọng đích thực – niềm hy vọng được khai sinh từ chính mầu nhiệm Tử Nạn và Phục Sinh. Ước gì, với ơn Chúa nâng đỡ, mỗi ngày người nữ tu Mến Thánh Giá biết luôn chọn việc ở lại dưới chân thập giá, để được biến đổi nên giống Đức Kitô hơn, và trở thành chứng nhân khiêm tốn nhưng trung tín của tình yêu cứu độ giữa thế giới hôm nay.

 

Maria Nguyễn Thị Trinh Nữ

Học Viện Mến Thánh Giá Huế

 

[1] “Vì được dìm vào trong cái chết của Người, chúng ta đã cùng được mai táng với Người. Bởi thế, cũng như Người đã được sống lại từ cõi chết nhờ quyền năng vinh hiển của Chúa Cha, thì chúng ta cũng được sống một đời sống mới.

Thật vậy, vì chúng ta đã nên một với Đức Ki-tô nhờ được chết như Người đã chết, thì chúng ta cũng sẽ nên một với Người, nhờ được sống lại như Người đã sống lại. Chúng ta biết rằng : con người cũ nơi chúng ta đã bị đóng đinh vào thập giá với Đức Ki-tô, như vậy, con người do tội lỗi thống trị đã bị huỷ diệt, để chúng ta không còn làm nô lệ cho tội lỗi nữa. Quả thế, ai đã chết, thì thoát khỏi quyền của tội lỗi.

Nếuchúng ta đã cùng chết với Đức Ki-tô, chúng ta cũng sẽ cùng sống với Người: đó là niềm tin của chúng ta. Thật vậy, chúng ta biết rằng : một khi Đức Ki-tô đã sống lại từ cõi chết, thì không bao giờ Người chết nữa, cái chết chẳng còn quyền chi đối với Người. Người đã chết, là chết đối với tội lỗi, và một lần là đủ. Nay Người sống, là sống cho Thiên Chúa. Anh em cũng vậy, hãy coi mình như đã chết đối với tội lỗi, nhưng nay lại sống cho Thiên Chúa, trong Đức Ki-tô Giê-su. (Rm 6, 4-11)