
(Cv 14:19-28; Ga 14:27-31a)
Hành trình truyền giáo của Phaolô và Banaba tiếp tục gặp sóng gió và chống đối. Các ngài bị ngược đãi từ chính những người đồng bào [người Do Thái] của mình (x. Cv 14:19-20). Chính qua kinh nghiệm của mình, các ngài đã củng cố tinh thần của các môn đệ và giúp họ giữ vững đức tin. Nói cách khác, các ngài đã sử dụng chính gương sáng của đời sống đức tin của mình, vẫn trung thành giữ vững đức tin dù gặp khó khăn và thử thách, để khuyến khích các môn đệ đứng vững trong đức tin: “Chúng ta phải chịu nhiều gian khổ mới được vào Nước Thiên Chúa” (Cv 14:22). Chi tiết này nhắc nhở chúng ta về đời sống chứng tá của mình. Chính gương sáng đời sống đức tin của chúng ta là phương tiện hữu hiệu nhất để rao giảng tin mừng cũng như củng cố đức tin của anh chị em chúng ta vì chính qua đời sống của mình chúng ta “kể lại tất cả những gì Thiên Chúa đã cùng làm với hai ông, và việc Người đã mở cửa cho các dân ngoại đón nhận đức tin” (Cv 14:27). Thật vậy, chúng ta ý thức được trong ngày sống của mình chúng ta không bước đi một mình trong những khó khăn, nhưng có Chúa luôn đồng hành và làm việc trong chúng ta. Khi nhận ra được điều này, chúng ta sẽ trở nên dễ dạy với Chúa để Ngài hướng dẫn và biến chúng ta thành khí cụ hữu hiệu mang Tin Mừng của Ngài cho mọi người.
Sau khi cho các môn đệ biết về vai trò của Đấng Bảo Trợ (câu 26), Đấng sẽ đến sau khi Ngài ra đi về với Chúa Cha, Chúa Giêsu khuyên các môn đệ không nên sợ hãi và xao xuyến vì Ngài ban cho họ bình an của Ngài: “Thầy để lại bình an cho anh em, Thầy ban cho anh em bình an của Thầy. Thầy ban cho anh em không theo kiểu thế gian. Anh em đừng xao xuyến cũng đừng sợ hãi” (Ga 14:27). Bình an là điều ai trong chúng ta cũng tìm kiếm. Chúng ta thường nghe rằng: bình an hay hoà bình không phải là không có chiến tranh, nhưng là sau chiến tranh biết tha thứ và bắt đầu xây dựng lại trên yêu thương. Trong những lời trên, Chúa Giêsu chỉ ra cho các môn đệ thấy có hai loại bình an: bình an Ngài ban và bình an theo kiểu thế gian. Bình an theo kiểu thế gian là bình an chóng qua, vẫn để lại trong chúng ta sự xao xuyến và sợ hãi sẽ bị cướp mất bình an. Bình an Chúa Giêsu mang lại cho chúng ta là bình an của tâm hồn, là bình an của những người được giải thoát khỏi nô lệ tội lỗi, là bình an của những người cảm nhận được mình được yêu một cách vô điều kiện.
Ngoài việc an ủi các môn đệ không sợ hãi và xao xuyến khi Ngài ra đi về với Chúa Cha, Chúa Giêsu muốn các môn đệ của Ngài phải vui mừng vì nếu Ngài không đi thì Ngài không trở lại với các môn đệ: “‘Thầy ra đi và đến cùng anh em.’ Nếu anh em yêu mến Thầy, thì hẳn anh em đã vui mừng vì Thầy đi về cùng Chúa Cha, bởi vì Chúa Cha cao trọng hơn Thầy. Bây giờ, Thầy nói với anh em trước khi sự việc xảy ra, để khi xảy ra, anh em tin” (Ga 14:28-29). Trong cuộc tranh luận với lạc giáo Ariô, câu “Chúa Cha cao trọng hơn Thầy” được sử dụng để cũng cố luận chứng của những người xây dựng nền “Kitô học lệ thuộc.” Như chúng ta đọc thấy, Tin Mừng Thánh Gioan luôn khẳng định sự hiệp nhất giữa Chúa Cha và Chúa Con, nên không thể nào chứa đựng một nền Kitô học như thế. Lối diễn tả trên, như trong sách Châm Ngôn (13:16), là một cách thức của Tin Mừng trình bày Chúa Giêsu là Đấng được Chúa Cha sai đến. Ngài hành động hoàn toàn trong sự vâng phục với những gì Ngài đã thấy và đã nghe từ Chúa Cha và như thế không phải là một lời tuyên bố mang tính lộng ngôn khi nói mình là “Thiên Chúa.” Là người môn đệ, chúng ta cũng được Chúa Giêsu sai đi rao giảng Tin Mừng, nhưng chúng ta thường có khuynh hướng nói những gì mình thích hơn là những gì chúng ta đã thấy và đã nghe từ Thiên Chúa. Để sống hoàn toàn vâng phục với thánh ý Chúa, chúng ta phải có một mối tương quan thật mật thiết với Chúa Cha như Chúa Giêsu. Mối tương quan này là mối tương quan của tình yêu, của hai con tim luôn đối thoại với nhau và cùng nhau đập chung một nhịp. Chỉ như thế, chúng ta mới hiểu được điều Chúa Giêsu nói là Chúa Cha thì cao trọng hơn.
Bài Tin Mừng kết thúc với việc Chúa Giêsu khẳng định rằng qua cuộc thương khó của mình, Ngài diễn tả tình yêu của Ngài dành cho Chúa Cha: “Thầy sẽ không còn nói nhiều với anh em nữa, bởi vì Thủ lãnh thế gian đang đến. Đã hẳn, nó không làm gì được Thầy. Nhưng chuyện đó xảy ra là để cho thế gian biết rằng Thầy yêu mến Chúa Cha và làm đúng như Chúa Cha đã truyền cho Thầy” (Ga 14:30-31a). Cuộc thương khó của Ngài là sự diễn tả cách triệt để nhất sự vâng phục của Ngài và qua đó, Ngài chứng tỏ rằng lương thực của Ngài là thực thi thánh ý của Chúa Cha. Những lời này nhắc nhở chúng ta rằng cái chết của Chúa Giêsu không phải là một cái gì mang tính tạm thời, có nghĩa là cho đến khi Ngài phục sinh, là chiến thắng Satan, nhưng là dấu chứng của sự vậng phục đầy yêu thương của Chúa Con dành cho Chúa Cha. Mẫu gương của Chúa Giêsu mời gọi chúng ta sống những giây phút khó khăn và đau khổ với niềm phó thác hoàn toàn cho Thiên Chúa. Chúng ta có thể nói rằng, chiến thắng những khó khăn, đau khổ trong cuộc sống có thể dễ dàng hơn việc nhận biết rằng sống phó thác, gắn bó với Chúa trong khó khăn và đau khổ là dấu chứng của sự vâng phục đầy yêu thương của chúng ta dành cho Thiên Chúa.
Lm. Antôn Nguyễn Ngọc Dũng, SDB
