Suy Niệm Lời Chúa – Thứ Bảy sau Chúa Nhật XIV Thường Niên – Sống Đời Sống Kính Sợ Thiên Chúa

(Is 6:1-8; Mt 10:24-33)

Bài đọc 1 trình bày cho chúng ta thị kiến của ngôn sứ Isaia sự kiện xảy ra vào năm vua Útdigiahu băng hà. Trong thị kiến, Isaia đã “thấy Chúa Thượng ngự trên ngai rất cao; tà áo của Người bao phủ Đền Thờ. Phía bên trên Người, có các thần Xêraphim đứng chầu. Mỗi vị có sáu cánh: hai cánh để che mặt, hai cánh để che chân, và hai cánh để bay. Các vị ấy đối đáp tung hô: ‘Thánh! Thánh! Chí Thánh! Đức Chúa các đạo binh là Đấng Thánh! Cả mặt đất rạng ngời vinh quang Chúa!’” (Is 6:1-3). Đứng trước sự thánh thiện của Thiên Chúa Isaia nhận ra sự bất xứng, tội lỗi của mình: “Khốn thân tôi, tôi chết mất! Vì tôi là một người môi miệng ô uế, tôi ở giữa một dân môi miệng ô uế, thế mà mắt tôi đã thấy Đức Vua là Đức Chúa các đạo binh!” (Is 6:5). Dù bất xứng và tội lỗi, Isaia được Đức Chúa chọn. Khi được chọn Đức Chúa đã thanh luyện và sai Isaia đi đến với con cái nhà Israel: “Một trong các thần Xêraphim bay về phía tôi, tay cầm một hòn than hồng người đã dùng cặp mà gắp từ trên bàn thờ. Người đưa hòn than ấy chạm vào miệng tôi và nói: ‘Đây, cái này đã chạm đến môi ngươi, ngươi đã được tha lỗi và xá tội.’ Bấy giờ tôi nghe tiếng Chúa Thượng phán: ‘Ta sẽ sai ai đây? Ai sẽ đi cho chúng ta?’ Tôi thưa: ‘Dạ, con đây, xin sai con đi’” (Is 6:6-8). Thái độ sẵn sàng để thuộc trọn về Thiên Chúa của Isaia đáng để chúng ta suy gẫm. Mỗi người chúng ta cũng là những con người yếu đuối tội lỗi. Nhưng Thiên Chúa gọi, chọn, thanh luyện và sai chúng ta đến với anh chị em mình. Liệu chúng ta có đáp lại lời mời gọi của Chúa không? Chúng ta có sẵn sàng để Chúa thanh luyện và sai chúng ta đi đến với những người mà Ngài muốn không?

Bài Tin Mừng hôm nay trình bày cho chúng ta về lời dạy của Chúa Giêsu liên quan đến nỗi sợ hãi chính đáng và nỗi sợ hãi không chính đáng. Chúng ta cũng tìm thấy lời dạy này trong Tin Mừng Thánh Luca (12:2-7). Thánh Mátthêu đã cẩn thận biến đổi nguồn (Q) để nó không chỉ kết thúc ở sợ hãi, nhưng còn bắt đầu với chính nó. Thánh sử còn thay đổi nguồn để tạo nên sự tương phản giữa sứ vụ ẩn dật của Chúa Giêsu và sứ vụ công khai [hơn] của các môn đệ trong câu 27. Chúa Giêsu bắt đầu lời dạy của mình bằng lời khuyến dụ: “Anh em đừng sợ người ta. Thật ra, không có gì che giấu mà sẽ không được tỏ lộ, không có gì bí mật, mà người ta sẽ không biết. Điều Thầy nói với anh em lúc đêm hôm, thì hãy nói ra giữa ban ngày; và điều anh em nghe rỉ tai, thì hãy lên mái nhà rao giảng” (Mt 10:26-27). Trong những lời này, Chúa Giêsu nhắc nhở các môn đệ rằng sứ vụ rao giảng Tin Mừng tự bản chất rất đáng sợ. Chỉ có niềm tin vào Thiên Chúa, Đấng mạc khải và phán xét mới giúp người môn đệ vượt thắng được sợ hãi. Những lời trên cũng mời gọi người môn đệ sống thật với sứ điệp Tin Mừng. Đời sống giả dối một ngày nào đó sẽ bị đưa ra ánh sáng. Nếu không bị đưa ra lúc còn sống thì trong ngày phán xét, mọi sự cũng sẽ được phơi bày. Vì vậy, chúng ta cần phải sống thật trong mọi hoàn cảnh để công bố sứ điệp Tin Mừng của Chúa.

Trong đời sống sứ vụ, các môn đệ Chúa Giêsu thường sợ hãi những gì xảy ra cho thân xác, như là thiếu cơm ăn, áo mặc, thiếu tiện nghi sinh sống mà nhiều khi quên mất mình có một linh hồn quý giá để chăm sóc cách đặc biệt. Chúa Giêsu nhắc cho các môn đệ biết rằng: “Anh em đừng sợ những kẻ giết thân xác mà không giết được linh hồn. Đúng hơn, anh em hãy sợ Đấng có thể tiêu diệt cả hồn lẫn xác trong hoả ngục” (Mt 10:28). Theo các học giả Kinh Thánh, những lời này giả định nền tâm lý Hy Lạp, đó là linh hồn tự bản chất là bất tử (x. 1 Tm 6:16). Sức mạnh của động từ “tiêu diệt” không hiển nhiên, rõ ràng cho lắm trong bối cảnh này. Chúng ta có thể hỏi: Có phải điều này có nghĩa là Thiên Chúa sẽ huỷ diệt cả thân xác và linh hồn và như thế hoả ngục có nghĩa là sự huỷ diệt không? Hoặc nó có nghĩa là “lo lắng,” “dằn vặt”? Điều Chúa Giêsu muốn dạy các môn đệ là sự quý trọng của linh hồn và sự hợp nhất giữa hồn và xác. Chính sự hợp nhất này mà xác và hồn sẽ được vinh quang hay sẽ bị luận phạt đời đời. Chỉ mình Thiên Chúa mới có quyền thực hiện điều này, còn những người khác chỉ có thể làm hại đến thân xác [hoặc đời sống tinh thần của chúng ta]. Chi tiết này ám chỉ đến niềm tin vào sự sống đời sau.

Chúa Giêsu sử dụng hình ảnh thường ngày về sự quan phòng của Thiên Chúa hầu khích lệ các môn đệ đứng vững trong niềm tin của mình: “Hai con chim sẻ chỉ bán được một hào phải không? Thế mà, không một con nào rơi xuống đất ngoài ý của Cha anh em. Thì đối với anh em cũng vậy, ngay đến tóc trên đầu anh em, Người cũng đếm cả rồi. Vậy anh em đừng sợ, anh em còn quý giá hơn muôn vàn chim sẻ” (Mt 10:29-31). Hình ảnh hai con chim sẻ ám chỉ đến loài vật có giá rẻ nhất trong thị trường; nhưng sự chăm sóc quan phòng của Thiên Chúa mở rộng đến chúng. Chúa Giêsu sử dụng luận chứng của rabbi [so sánh vấn đề nhỏ hơn với vấn đề lớn hơn] để giúp chiến thắng sợ hãi và khuyến khích các môn đệ tin tưởng vào Thiên Chúa. Niềm tin của chúng ta vào Thiên Chúa như thế nào?

Chúa Giêsu kết thúc lời dạy của mình bằng việc chỉ ra cho các môn đệ biết hệ quả của việc tuyên nhận và chối bỏ Ngài trước mặt thiên hạ: “Phàm ai tuyên bố nhận Thầy trước mặt thiên hạ, thì Thầy cũng sẽ tuyên bố nhận người ấy trước mặt Cha Thầy, Đấng ngự trên trời. Còn ai chối Thầy trước mặt thiên hạ, thì Thầy cũng sẽ chối người ấy trước mặt Cha Thầy, Đấng ngự trên trời” (Mt 10:32-33). Cấu trúc của hai câu này được tìm thấy đầu tiên trong 1 Sm 2:30. Trong câu nói của Chúa Giêsu, Ngài giả định một sự phân biệt giữa Ngài [đang hiện diện] và việc Con Người [sẽ đến trong tương lai]. Tuy nhiên đó không phải là điều Chúa Giêsu muốn nhấn mạnh. Điều Ngài có ý là phản ứng của chúng ta sẽ như thế nào khi chúng ta biết Chúa Giêsu chính là Con Người, Đấng sẽ quyết định tương lai của chúng ta về ơn cứu độ. Nếu chúng ta biết Chúa Giêsu [trong hiện tại] là Con Người, [sẽ đến trong tương lai], chúng ta có thái độ sống như thế nào?

Lm. Antôn Nguyễn Ngọc Dũng, SDB