Suy Niệm Lời Chúa – Thứ Hai sau Chúa Nhật XXIX Thường Niên – Niềm Vui Được Giải Thoát Khỏi Ách Nô Lệ Sự Dữ

(Ep 4:32 – 5:8; Lc 13:10-17)

Thánh Phaolô trong bài đọc 1 hôm nay kêu gọi các tín hữu Êphêsô phải đối xử với nhau như thế nào. Họ phải “đối xử tốt với nhau, phải có lòng thương xót và biết tha thứ cho nhau, như Thiên Chúa đã tha thứ cho anh em trong Đức Kitô (Ep 4:32). Họ chỉ bắt chước Thiên Chúa vì họ là con cái của Ngài. Chúng ta thường nghe nói “con nhà tông không giống lông cũng giống cánh.” Nếu là con Thiên Chúa, chúng ta cũng phải nên giống Người trong đời sống yêu thương. Tình yêu đó được thể hiện nơi Đức Kitô, Đấng “vì chúng ta, đã tự nộp mình làm hiến lễ, làm hy lễ dâng lên Thiên Chúa tựa hương thơm ngào ngạt” (Ep 5:2). Là con cái Thiên Chúa, chúng ta phải tránh “chuyện gian dâm, mọi thứ ô uế hay tham lam, thì dù nói đến, anh em cũng phải tránh, như thế mới xứng đáng là những người trong dân thánh. Đừng nói lời thô tục, nhảm nhí, cợt nhả: đó là những điều không nên” (Ep 5:3-4). Chúng ta phải luôn mặc lấy tâm tình tạ ơn vì Thiên Chúa đã đưa chúng ta ra khỏi bóng tối để trở nên con cái ánh sáng: “Xưa anh em là bóng tối, nhưng bây giờ, trong Chúa, anh em lại là ánh sáng. Vậy anh em hãy ăn ở như con cái ánh sáng” (Ep 5:8). Qua bí tích rửa tội, chúng ta được trở nên con cái ánh sáng. Chúng ta đã sống ơn gọi này như thế nào?

Bài Tin Mừng hôm nay thuật lại cho chúng ta việc Chúa Giêsu chữa một người phụ nữ bị quỷ làm cho tàn tật. Đây là một trong những minh hoạ về bản chất của Nước Thiên Chúa. Chúng ta chỉ tìm thấy câu chuyện này trong Tin Mừng Thánh Luca. Qua câu chuyện này, Thánh Luca chỉ ra ý nghĩa của Nước Thiên Chúa được diễn tả qua hành động của Chúa Giêsu. Chúng ta có thể chia bài Tin Mừng ra làm hai phần: Phần 1 (Lc 13:10-13) thuật lại việc Chúa Giêsu chữa người phụ nữ và phần 2 (Lc 13:14-17) là cuộc tranh luận giữa Chúa Giêsu với ông trưởng hội đường về việc Chúa Giêsu chữa bệnh vào ngày sabát.

Điểm đầu tiên làm chúng ta lưu ý là việc người phụ nữ xuất hiện trong hội đường khi Chúa Giêsu giảng dạy ở đó: “Khi ấy, Đức Giêsu giảng dạy trong một hội đường. Ở đó, có một phụ nữ bị quỷ làm cho tàn tật đã mười tám năm. Lưng bà còng hẳn xuống và bà không thể nào đứng thẳng lên được” (Lc 13:10-11). Những lời này cho thấy bà đến đây để lắng nghe Chúa Giêsu và có thể với hy vọng là được Chúa Giêsu chữa lành. Tuy nhiên, việc Thánh Luca đặt bà hiện diện ở đây để nói lên rằng Nước Thiên Chúa không chỉ dành cho người nam. Những người “bé mọn” như bà là những người đã đáp lại quyền lực của Nước Thiên Chúa đang hoạt động trong bà qua việc tôn vinh Thiên Chúa sau khi được Chúa Giêsu chữa lành: “Trông thấy bà, Đức Giêsu gọi lại và bảo: ‘Này bà, bà đã được giải thoát khỏi tật nguyền!’ Rồi Người đặt tay trên bà, tức khắc bà đứng thẳng lên được và tôn vinh Thiên Chúa” (Lc 13:12-13). Phản ứng của bà hoàn toàn trái ngược với phản ứng của những người lãnh đạo tôn giáo, là những người có thể trở nên mù loà trước sự hiện diện của Nước Thiên Chúa để rồi không sám hối để được cứu độ. Chúng ta thấy điều này trong phản ứng của ông trưởng hội đường. Đây cũng là phản ứng của nhiều người trong chúng ta khi thấy người khác được “may mắn” hơn mình. Phản ứng khó chịu và ghen ghét nhiều lần làm chúng ta bị mù trước sự hiện diện của Thiên Chúa đang ở bên và kêu mời chúng ta trở về với Ngài.

Phần 2 trình bày cho chúng ta cuộc tranh luận của Chúa Giêsu với ông trưởng hội đường về việc chữa lành trong ngày sabát. Như chúng ta đã nói ở trên, khi thấy Chúa Giêsu chữa lành người phụ nữ, “ông trưởng hội đường tức tối vì Đức Giêsu đã chữa bệnh vào ngày sabát” (Lc 13:14). Dù tức tối với Chúa Giêsu, nhưng ông trưởng hội đường không dám nói trực tiếp với Chúa Giêsu mà nói với đám đông: “Đã có sáu ngày để làm việc, thì đến mà xin chữa bệnh những ngày đó, đừng có đến vào ngày sabát!” Thay vì đám đông trả lời thì Chúa Giêsu lên tiếng chỉ trích không chỉ ông trưởng hội đường mà cả những người theo ông [và cả chúng ta, những người có thái đội tức tối hoặc ghen tức khi thấy người khác nhận được điều tốt lành]: “Những kẻ đạo đức giả kia! Thế ngày sabát, ai trong các người lại không cởi dây, dắt bò lừa rời máng cỏ đi uống nước? Còn bà này là con cháu ông Ápraham, bà ấy bị Xatan trói buộc đã mười tám năm nay, thì chẳng lẽ lại không được cởi xiềng xích đó trong ngày sabát sao?” (Lc 13:15-16). Trong những lời này, ngoài việc chỉ trích những người đạo đức giả, Chúa Giêsu còn khẳng định rằng những người nữ cũng là con cháu Ápraham, cũng được hưởng những gì đã hứa cho con cháu ông chứ không chỉ những người nam mới được hưởng lời hứa đó. Bên cạnh đó, Chúa Giêsu còn khẳng định ý nghĩa của ngày sabát là để làm điều thiện, làm điều tốt cho người khác. Nói cách khác, điều Chúa Giêsu làm trong ngày sabát thật sự mang một ý nghĩa thần học sâu xa, đó là giải phóng con người khỏi xiềng xích của Xatan. Mục đích của sabát được hoàn thành không phải bởi việc cấm không cho làm những việc tốt, mà là khuyến khích làm việc tốt cho anh chị em mình. Sự chân thật trong lời nói và hành động của Chúa Giêsu đã làm cho “tất cả những kẻ chống đối Người lấy làm xấu hổ, còn toàn thể đám đông thì vui mừng vì mọi việc hiển hách Người đã thực hiện” (Lc 13:17). Chi tiết này khuyến cáo chúng ta về việc chúng ta xem ngày sabát (Chúa Nhật) có ý nghĩa gì đối với mình. Nhiều người trong chúng ta chủ yếu đến tham dự thánh lễ trong ngày Chúa Nhật để tránh phạm tội “không đi lễ ngày Chúa Nhật,” nhưng trong lòng lại chứa đựng những hờn ghen, những ý tưởng không hay không tốt về anh chị em mình. Tệ hơn là nhiều khi chúng ta sử dụng ngày Chúa Nhật để gặp gỡ nhau hầu nói xấu người này người nọ trong cộng đoàn. Ngày Chúa Nhật [mỗi ngày vì thời gian thuộc về Thiên Chúa] là ngày để nghĩ tốt, nói tốt và làm tốt cho anh chị em mình.

Lm. Antôn Nguyễn Ngọc Dũng, SDB