Khổ Chế Mến Thánh Giá Dưới Ánh Sáng Của Mầu Nhiệm Vượt Qua (1)

KHỔ CHẾ MẾN THÁNH GIÁ

 DƯỚI ÁNH SÁNG CỦA MẦU NHIỆM VƯỢT QUA

Dẫn nhập

Đời sống Kitô hữu nói chung và cách riêng đời sống người thánh hiến, việc sống khổ chế từng ngày là một thực hành không thể thiếu bởi vì “không chấp nhận khổ chế thì người ta không thể sống theo Bí tích Rửa tội và cũng không thể trung thành với ơn gọi”[1].

Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolo II trong tông huấn “Đời sống thánh hiến” còn khuyên dạy chúng ta:“Cần phải khám phá lại những phương thế khổ chế điển hình trong truyền thống thiêng liêng của Giáo Hội và của mỗi tu hội. Các phương thế này đã và còn tiếp tục nâng đỡ vững vàng cuộc hành trình chân thực tiến đến sự thánh thiện”.

Người nữ tu Mến Thánh Giá nhìn vào cuộc đời Đức cha Lambert de la Motte, chắc chắn cảm nhận được mẫu gương sống khổ chế của ngài xuất phát từ niềm say mến Thánh Giá Cứu chuộc của Chúa Giêsu Kitô, từ khát vọng cứu rỗi các linh hồn ngang qua sứ mạng của ngài nơi miền truyền giáo Đông Ấn và đặc biệt từ ước muốn thiết lập khắp nơi Hội Những Người Yêu Mến Thánh Giá Chúa Kitô để truyền bá cho mọi người lý tưởng cao cả này.

Những giáo huấn về khổ chế mà Đức cha Lambert truyền dạy chị em Mến Thánh Giá từ thế kỷ XVII, khi được nhìn dưới ánh sáng của mầu nhiệm Vượt Qua vẫn không hề bị lỗi thời, trái lại luôn cần thiết cho tiến trình tu luyện và thăng tiến đời tu hiện nay như sẽ được trình bày trong bài này.

  1. KHÁI NIỆM VỀ KHỔ CHẾ

1.1. Khổ chế là gì?

          – Từ ngữ: khổ: tự hãm mình; chế: kiềm hãm. Khổ chế[2]: tự kìm hãm mình. Khổ chế có gốc Hy Lạp là ἄσκησις (askesis), nghĩa là toàn bộ những luyện tập (thể lý, trí tuệ, tinh thần) được thực hiện với một phương pháp để nên hoàn thiện[3].

– Khổ chế, một việc làm trong khoa tu đức Ki-tô giáo nhằm thắng vượt tội lỗi và làm chủ các xu hướng tội lỗi; giúp tăng cường ý chí khi thực tập các nhân đức, và giúp con người ngày càng nên đồng hình đồng dạng với Chúa Kitô trong cuộc khổ nạn của Người.

– Khổ chế tự nhiên nhằm rèn luyện bản thân; còn khổ chế siêu nhiên dựa trên đức tin là tìm cách để ngày càng nên thánh thiện hơn nhờ những công trạng đã đạt được khi cộng tác với ơn Chúa[4].

1.2. Các thuật ngữ tương đương với khổ chế

     1.2.1. Trong Thánh Kinh[5]

          Để chỉ những hình thức khác nhau của khổ chế, Thánh Kinh sử dụng nhiều từ tương đương như:

  1. a) Chiến đấu nội tâm (spiritual battle, combat spirituel): “Tôi đã đấu trong cuộc thi đấu cao đẹp, đã chạy hết chặng đường, đã giữ vững niềm tin” (2Tm 4,7);Anh hãy đồng lao cộng khổ như một người lính giỏi của Đức Ki-tô Giê-su” (2Tm 2, 3).
  2. b) Thao luyện (train, former): “Người chịu rèn luyện như thế sẽ gặt được hoa trái là bình an và công chính”(Dt 12,11); “Anh em chẳng biết sao: trong cuộc ​chạy đua trên thao trường, tất cả mọi người đều chạy, nhưng chỉ có một người đoạt giải. Anh em hãy chạy thế nào để chiếm cho được phần thưởng. Phàm là tay đua, thì phải ​kiêng kỵ đủ điều, song họ làm như vậy là để đoạt ​phần thưởng chóng hư; trái lại chúng ta nhằm phần thưởng không bao giờ hư nát. Vậy tôi đây cũng ​chạy như thế, chứ không chạy mà không xác tín; tôi đấm như thế, chứ không phải đấm vào không khí. Tôi bắt thân thể ​phải chịu cực và phục tùng, kẻo sau khi rao giảng cho người khác, chính tôi lại bị loại” (1Cr 9,24-27).
  3. c) Diệt dục (mortification): “Con đừng buông theo các tham vọng của con, nhưng hãy kiềm chế các dục vọng” (Hc 18,30); “Nếu anh em sống theo tính xác thịt, anh em sẽ phải chết; nhưng nếu nhờ Thần Khí, anh em diệt trừ những hành vi của con người ích kỷ nơi anh em, thì anh em sẽ được sống.” (Rm 8,13).

          Theo nghĩa rộng hơn, khổ chế còn là:

  1. d) Từ bỏ:

          – là dứt lòng từ bỏ mọi dính bén về của cải để theo Chúa: “Ai trong anh em không từ bỏ hết những gì mình có, thì không thể làm môn đệ tôi được” (Lc 14,33); từ bỏ ngay cả tình cảm đối với thân quyến, ruột thịt: cha mẹ, vợ con, anh em, họ hàng (Mc 10,29). Thánh Phaolo khuyên dạy tín hữu Colose: “Cả anh em nữa, hãy từ bỏ tất cả những cái đó: nào là giận dữ, nóng nảy, độc ác, nào là thoá mạ, ăn nói thô tục” (Cl1, 24).

          –  là chết đi đối với chính mình (mortificatio): lột bỏ con người cũ: “Anh em phải ​cởi bỏ con người cũ với nếp sống xưa, là con người phải hư nát vì bị những ham muốn lừa dối, anh em phải để Thần Khí đổi mới tâm trí anh em, và phải mặc lấy con người mới, là ​con người đã được sáng tạo theo hình ảnh Thiên Chúa để thật sự sống công chính và thánh thiện (Ep 4,22-24); là làm chết đi (nekrosis, mortificatio): “Vậy anh em hãy giết chết những gì thuộc về hạ giới trong con người anh em: ấy là gian dâm, ô uế, đam mê, ước muốn xấu và tham lam; mà tham lam cũng là thờ ngẫu tượng” (Cl 3, 5).

  1. e) là đóng đinh chính mình: “Những ai thuộc về Đức Kitô Giêsu thì đã đóng đinh tính xác thịt vào thập giá cùng với các dục vọng và đam mê.” (Gl 5, 24).

          1.2.2. Giáo lý Hội Thánh Công giáo

          Hãm mình (mortificatio)[6]: hãm mình là việc con người từ bỏ điều vui thích hay chấp nhận sự khó nhọc, thiếu thốn để ý chí dễ dàng tuân theo thánh ý Thiên Chúa hơn và dự phần vào cái chết của Chúa Kitô. Giáo lý Hội Thánh Công giáo dạy: “Nhờ sự vâng phục cho đến chết, Chúa Kitô đã ban cho các môn đệ của Ngài hồng ân của sự tự do vương giả, để họ diệt tan quyền thống trị của tội lỗi ở nơi bản thân họ, nhờ sự từ bỏ mình và sự thánh thiện của đời sống họ”[7]. Việc hãm mình là cần thiết để “giúp chúng ta làm chủ được bản năng và đạt tới sự tự do nội tâm”[8].

  1. Ý NGHĨA CỦA SỰ KHỔ CHẾ KI-TÔ GIÁO[9]

Tất cả việc thực hành khổ chế của người tín hữu đều mang một ý nghĩa cao cả và hướng đến mục đích rõ ràng.

2.1. Giáo dục

          Mục đích của việc khổ chế là để rèn luyện ý chí, bắt tình cảm vâng theo lý trí. Khi nói về việc khổ chế, một kinh sĩ đã nói như sau: “Sự khổ chế trước hết là sự tập luyện tiêu biểu nhất để rèn luyện ý chí. Chính nhờ sự khổ chế mà chúng ta tập thói quen không chiều theo các đam mê của chúng ta một cách mù quáng, chúng ta kiểm soát được bản thân và chế ngự được chính mình”[10].

2.2. Thanh luyện

Khổ chế là phương thế để đền tội, để thánh hóa bản thân đặc biệt hữu hiệu, giúp chúng ta sống cao thượng hơn, để dễ tiến bước trên đường thánh thiện: từ bỏ tự nhiên để tiến tới siêu nhiên; từ khước bản thân để chiếm hữu được Chúa và kết hiệp với Ngài.

2.3. Tông đồ

          Sống khổ chế là ước muốn họa lại khuôn mẫu hoàn hảo của một Đức Kitô hiền hoà, nhẫn nại và hy sinh chính mình trong cuộc thương khó. Đấng đã chết trên Thánh Giá để chuộc tội cho toàn thể nhân loại.

Theo Thánh Phaolo, người tín hữu cũng mang thao thức cứu độ nhân loại như Đức Kitô, vì thế họ cũng muốn góp phần vào kế hoạch cứu độ nhờ việc tham dự vào những khổ nạn thập giá:“Chúng tôi luôn mang nơi thân mình cuộc Thương khó của Đức Giêsu, để sự sống của Đức Giêsu cũng được biểu lộ nơi thân mình chúng tôi” (2Cr 4,10; xem thêm 2Cr 11, 23-29).

2.4. Cánh chung

           Khổ chế còn có giá trị cánh chung. Người Ki-tô hữu chế ngự các ham muốn tự nhiên là vì nhìn nhận rằng bên trên những thú vui đời này còn có những giá trị cao quý hơn. Mỗi tín hữu đều phải xác tín như lời thánh Phaolo: “Nếu anh chị em sống theo xác thể, anh chị em sẽ phải chết; nếu anh chị em biết dùng tinh thần mà cầm hãm xác thể, anh chị em sẽ được sự sống đời đời” (Rm 8:13); “Anh em hãy hướng lòng trí về những gì thuộc thượng giới, chứ đừng chú tâm vào những gì thuộc hạ giới” vì “bộ mặt thế gian này đang qua đi” (1C 7, 31b).

Nữ tu Catarina Dương Thị Thu Trang

Hội dòng Mến Thánh Giá Huế

………………………………………………………………

[1] PI, số 36.

[2] x. HĐGMVN – Ủy ban giáo lý đức tin – Tiểu ban từ vựng, Từ điển Công giáo, Tôn giáo, 2011, tr. 189.

[3] x. MINH VẬN (CMC), Sống thánh, phương thế thánh hóa bản thân, https://www.thoidiemmaria.net/TDM2010/TuDuc/ThanhHoaKhoa-Tap2-BaBacThanhThien-KhoCheBanThan.htm.

[4] x. J.A. HARDON Sj., Tự điển Công giáo phổ thông, New York, 1985, tr. 431.

[5] x. HUỲNH TRỤ, Khổ chế, trong https://tgpsaigon.net/bai-viet/kho-che-42534.

[6] x. GLHTCG, số 2015; 2340.

[7] GLHTCG, số 908.

[8] Nt, số 2043.

[9] x. PHAN TẤN THÀNH OP, “Đời Sống Tâm Linh”, Tập III, chương 9,

mục 3 (LHNB), 2002.

[10] Jacques LECLERCQ, “Sự Khổ Chế và Sự Không Dính Bén”, Hồng Đức 2015, tr. 5.