Khổ Chế Mến Thánh Giá Dưới Ánh Sáng Của Mầu Nhiệm Vượt Qua

KHỔ CHẾ MẾN THÁNH GIÁ DƯỚI ÁNH SÁNG CỦA MẦU NHIỆM VƯỢT QUA
Nữ tu Catarina Dương Thị Thu Trang – Hội dòng Mến Thánh Giá Huế

Dẫn nhập

Đời sống Kitô hữu nói chung và cách riêng đời sống người thánh hiến, việc sống khổ chế từng ngày là một thực hành không thể thiếu bởi vì “không chấp nhận khổ chế thì người ta không thể sống theo Bí tích Rửa tội và cũng không thể trung thành với ơn gọi”[1].

Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolo II trong tông huấn “Đời sống thánh hiến” còn khuyên dạy chúng ta:“Cần phải khám phá lại những phương thế khổ chế điển hình trong truyền thống thiêng liêng của Giáo Hội và của mỗi tu hội. Các phương thế này đã và còn tiếp tục nâng đỡ vững vàng cuộc hành trình chân thực tiến đến sự thánh thiện”.

Người nữ tu Mến Thánh Giá nhìn vào cuộc đời Đức cha Lambert de la Motte, chắc chắn cảm nhận được mẫu gương sống khổ chế của ngài xuất phát từ niềm say mến Thánh Giá Cứu chuộc của Chúa Giêsu Kitô, từ khát vọng cứu rỗi các linh hồn ngang qua sứ mạng của ngài nơi miền truyền giáo Đông Ấn và đặc biệt từ ước muốn thiết lập khắp nơi Hội Những Người Yêu Mến Thánh Giá Chúa Kitô để truyền bá cho mọi người lý tưởng cao cả này.

Những giáo huấn về khổ chế mà Đức cha Lambert truyền dạy chị em Mến Thánh Giá từ thế kỷ XVII, khi được nhìn dưới ánh sáng của mầu nhiệm Vượt Qua vẫn không hề bị lỗi thời, trái lại luôn cần thiết cho tiến trình tu luyện và thăng tiến đời tu hiện nay như sẽ được trình bày trong bài này.

I. KHÁI NIỆM VỀ KHỔ CHẾ

1.1. Khổ chế là gì?

          – Từ ngữ: khổ: tự hãm mình; chế: kiềm hãm. Khổ chế[2]: tự kìm hãm mình. Khổ chế có gốc Hy Lạp là ἄσκησις (askesis), nghĩa là toàn bộ những luyện tập (thể lý, trí tuệ, tinh thần) được thực hiện với một phương pháp để nên hoàn thiện[3].

– Khổ chế, một việc làm trong khoa tu đức Ki-tô giáo nhằm thắng vượt tội lỗi và làm chủ các xu hướng tội lỗi; giúp tăng cường ý chí khi thực tập các nhân đức, và giúp con người ngày càng nên đồng hình đồng dạng với Chúa Kitô trong cuộc khổ nạn của Người.

– Khổ chế tự nhiên nhằm rèn luyện bản thân; còn khổ chế siêu nhiên dựa trên đức tin là tìm cách để ngày càng nên thánh thiện hơn nhờ những công trạng đã đạt được khi cộng tác với ơn Chúa[4].

1.2. Các thuật ngữ tương đương với khổ chế

     1.2.1. Trong Thánh Kinh[5]

          Để chỉ những hình thức khác nhau của khổ chế, Thánh Kinh sử dụng nhiều từ tương đương như:

  1. a) Chiến đấu nội tâm (spiritual battle, combat spirituel): “Tôi đã đấu trong cuộc thi đấu cao đẹp, đã chạy hết chặng đường, đã giữ vững niềm tin” (2Tm 4,7);Anh hãy đồng lao cộng khổ như một người lính giỏi của Đức Ki-tô Giê-su” (2Tm 2, 3).
  2. b) Thao luyện (train, former):“Người chịu rèn luyện như thế sẽ gặt được hoa trái là bình an và công chính” (Dt 12,11);Anh em chẳng biết sao: trong cuộc ​chạy đua trên thao trường, tất cả mọi người đều chạy, nhưng chỉ có một người đoạt giải. Anh em hãy chạy thế nào để chiếm cho được phần thưởng. Phàm là tay đua, thì phải ​kiêng kỵ đủ điều, song họ làm như vậy là để đoạt ​phần thưởng chóng hư; trái lại chúng ta nhằm phần thưởng không bao giờ hư nát. Vậy tôi đây cũng ​chạy như thế, chứ không chạy mà không xác tín; tôi đấm như thế, chứ không phải đấm vào không khí. Tôi bắt thân thể ​phải chịu cực và phục tùng, kẻo sau khi rao giảng cho người khác, chính tôi lại bị loại” (1Cr 9,24-27).
  3. c) Diệt dục (mortification): “Con đừng buông theo các tham vọng của con, nhưng hãy kiềm chế các dục vọng” (Hc 18,30);“Nếu anh em sống theo tính xác thịt, anh em sẽ phải chết; nhưng nếu nhờ Thần Khí, anh em diệt trừ những hành vi của con người ích kỷ nơi anh em, thì anh em sẽ được sống.” (Rm 8,13).

          Theo nghĩa rộng hơn, khổ chế còn là:

  1. d) Từ bỏ:

          – là dứt lòng từ bỏ mọi dính bén về của cải để theo Chúa: “Ai trong anh em không từ bỏ hết những gì mình có, thì không thể làm môn đệ tôi được” (Lc 14,33); từ bỏ ngay cả tình cảm đối với thân quyến, ruột thịt: cha mẹ, vợ con, anh em, họ hàng (Mc 10,29). Thánh Phaolo khuyên dạy tín hữu Colose: “Cả anh em nữa, hãy từ bỏ tất cả những cái đó: nào là giận dữ, nóng nảy, độc ác, nào là thoá mạ, ăn nói thô tục” (Cl1, 24).

          –  là chết đi đối với chính mình (mortificatio): lột bỏ con người cũ: “Anh em phải ​cởi bỏ con người cũ với nếp sống xưa, là con người phải hư nát vì bị những ham muốn lừa dối, anh em phải để Thần Khí đổi mới tâm trí anh em, và phải mặc lấy con người mới, là ​con người đã được sáng tạo theo hình ảnh Thiên Chúa để thật sự sống công chính và thánh thiện (Ep 4,22-24); là làm chết đi (nekrosis, mortificatio): “Vậy anh em hãy giết chết những gì thuộc về hạ giới trong con người anh em: ấy là gian dâm, ô uế, đam mê, ước muốn xấu và tham lam; mà tham lam cũng là thờ ngẫu tượng” (Cl 3, 5).

  1. e) là đóng đinh chính mình: “Những ai thuộc về Đức Kitô Giêsu thì đã đóng đinh tính xác thịt vào thập giá cùng với các dục vọng và đam mê.” (Gl 5, 24).

          1.2.2. Giáo lý Hội Thánh Công giáo

          Hãm mình (mortificatio)[6]: hãm mình là việc con người từ bỏ điều vui thích hay chấp nhận sự khó nhọc, thiếu thốn để ý chí dễ dàng tuân theo thánh ý Thiên Chúa hơn và dự phần vào cái chết của Chúa Kitô. Giáo lý Hội Thánh Công giáo dạy: “Nhờ sự vâng phục cho đến chết, Chúa Kitô đã ban cho các môn đệ của Ngài hồng ân của sự tự do vương giả, để họ diệt tan quyền thống trị của tội lỗi ở nơi bản thân họ, nhờ sự từ bỏ mình và sự thánh thiện của đời sống họ”[7]. Việc hãm mình là cần thiết để “giúp chúng ta làm chủ được bản năng và đạt tới sự tự do nội tâm”[8].

II. Ý NGHĨA CỦA SỰ KHỔ CHẾ KI-TÔ GIÁO[9]

Tất cả việc thực hành khổ chế của người tín hữu đều mang một ý nghĩa cao cả và hướng đến mục đích rõ ràng.

2.1. Giáo dục

          Mục đích của việc khổ chế là để rèn luyện ý chí, bắt tình cảm vâng theo lý trí. Khi nói về việc khổ chế, một kinh sĩ đã nói như sau: “Sự khổ chế trước hết là sự tập luyện tiêu biểu nhất để rèn luyện ý chí. Chính nhờ sự khổ chế mà chúng ta tập thói quen không chiều theo các đam mê của chúng ta một cách mù quáng, chúng ta kiểm soát được bản thân và chế ngự được chính mình”[10].

2.2. Thanh luyện

Khổ chế là phương thế để đền tội, để thánh hóa bản thân đặc biệt hữu hiệu, giúp chúng ta sống cao thượng hơn, để dễ tiến bước trên đường thánh thiện: từ bỏ tự nhiên để tiến tới siêu nhiên; từ khước bản thân để chiếm hữu được Chúa và kết hiệp với Ngài.

2.3. Tông đồ

          Sống khổ chế là ước muốn họa lại khuôn mẫu hoàn hảo của một Đức Kitô hiền hoà, nhẫn nại và hy sinh chính mình trong cuộc thương khó. Đấng đã chết trên Thánh Giá để chuộc tội cho toàn thể nhân loại.

Theo Thánh Phaolo, người tín hữu cũng mang thao thức cứu độ nhân loại như Đức Kitô, vì thế họ cũng muốn góp phần vào kế hoạch cứu độ nhờ việc tham dự vào những khổ nạn thập giá:“Chúng tôi luôn mang nơi thân mình cuộc Thương khó của Đức Giêsu, để sự sống của Đức Giêsu cũng được biểu lộ nơi thân mình chúng tôi” (2Cr 4,10; xem thêm 2Cr 11, 23-29).

2.4. Cánh chung

           Khổ chế còn có giá trị cánh chung. Người Ki-tô hữu chế ngự các ham muốn tự nhiên là vì nhìn nhận rằng bên trên những thú vui đời này còn có những giá trị cao quý hơn. Mỗi tín hữu đều phải xác tín như lời thánh Phaolo: “Nếu anh chị em sống theo xác thể, anh chị em sẽ phải chết; nếu anh chị em biết dùng tinh thần mà cầm hãm xác thể, anh chị em sẽ được sự sống đời đời” (Rm 8:13); “Anh em hãy hướng lòng trí về những gì thuộc thượng giới, chứ đừng chú tâm vào những gì thuộc hạ giới” vì “bộ mặt thế gian này đang qua đi” (1C 7, 31b).

III. KHỔ CHẾ MẾN THÁNH GIÁ DƯỚI ÁNH SÁNG

CỦA MẦU NHIỆM VƯỢT QUA

          Bản Luật tiên khởi Đức Cha Lambert de la Motte viết cho Dòng Mến Thánh Giá mở đầu như sau: “Vì ý định của Con Thiên Chúa khi chịu chết để cứu độ nhân loại là đòi buộc mọi người phải chết đi đối với chính mình, và chỉ sống cho Chúa, theo giáo huấn của Thánh Phaolô viết cho tín hữu Côrintô: “Đức Kitô đã chết thay cho mọi người, để những ai đang sống, không còn sống cho chính mình nữa, mà sống cho Đấng đã chết và sống lại vì mình” (2Cr 5.15)”[11].

Những lời đó nói lên ý nghĩa của việc người môn đệ bước theo Chúa Kitô chính là tham dự ngày càng ý thức hơn vào mầu nhiệm thương khó, chết và sống lại của Người. Đời sống thánh hiến còn phải trở nên chứng nhân “nhờ việc tuyên giữ các lời khuyên của Tin Mừng, các nét đặc trưng của Đức Giêsu – Khiết tịnh, nghèo khó và vâng phục – trở thành hữu hình giữa lòng thế giới như một gương mẫu thường hằng, và các tín hữu được mời gọi hướng nhìn về mầu nhiệm Nước Thiên Chúa đã tác động trong lịch sử, nhưng còn đang chờ đạt tới viên mãn ở trên trời”[12]. Vì thế, hơn bao giờ hết, giữa một thế giới mà cơn sốt của đời sống hưởng thụ đang ngày càng trỗi mạnh, khiến tâm hồn chúng ta dễ bị mê mẫn bởi những thứ bề ngoài, thừa thải; trước sự nổi loạn của khoái lạc và lạm dụng quyền hành dưới nhiều hình thức, Giáo Hội cần có những nhân chứng về mầu nhiệm phục sinh của Đức Kitô, mà giai đoạn đầu phải là giai đoạn thập giá[13]. Điều này rất phù hợp với những gì được nói đến trong huấn thị “Những Chỉ Dẫn Về Việc Huấn Luyện Trong Các Dòng Tu” là phải có khổ chế[14].

3.1. Chết đi đối với chính mình nghĩa là gì?

Theo tiến sĩ Jared Ortiz: “Kinh thánh dạy chúng ta rằng “không ai có thể thấy Thiên Chúa mà còn sống” (Xh 33, 20). Vì vậy, để thấy Thiên Chúa, chúng ta phải chết. Để thấy Thiên Chúa trong cuộc sống này, chúng ta phải chết đối với thế gian và chết đối với chính mình, điều đó có nghĩa là cần phải có một loại khổ hạnh triệt để nào đó” [15].

Nhưng tại sao cái chết khổ hạnh cần thiết để gặp thấy Chúa? Nguyên nhân nằm ở tội lỗi. Chính tội lỗi đã làm hỏng mối quan hệ của chúng ta với mọi thứ bằng cách làm hỏng thái độ tự nhiên của tâm hồn, suy nghĩ, ý chí của chúng ta[16]. Sau tội nguyên tổ, bản tính của chúng ta có khuynh hướng làm điều dữ. Chính vì khuynh hướng dai dẳng này mà chúng ta nhất định phải chết đi, phải khổ chế. Mặt khác, không chỉ hậu quả của tội nguyên tổ, nhưng cả hiện tội và hậu quả của nó cũng buộc chúng ta phải khổ chế. Ở đây, đức tiết độ Kitô giáo rất khác so với sự tiết độ thuần túy tự nhiên vốn đã được thế gian biết đến. Như thế, có thể suy ra rằng, nếu tín điều về tội nguyên tổ và những hậu quả của nó là một phần thiết yếu trong giáo lý Kitô giáo, thì khổ chế cũng phải là một phần thiết yếu như vậy[17].

Riêng đối với bậc tu trì, thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II nhắn nhủ: “Khổ chế giúp chế ngự và sửa chữa những khuynh hướng của bản tính nhân loại đã bị tổn thương vì tội lỗi, khổ chế rất cần thiết để người tận hiến trung thành với ơn gọi của mình và bước theo Đức Giêsu trên con đường thập giá[18].

Nơi bài viết về “Dốc lòng của một Thừa sai Tông tòa khi vào nơi Truyền giáo của mình”, Đức Cha Lambert cũng nói đến nguyên tội chính là cội nguồn phát sinh mọi sự dữ bên trong chúng ta, những tội bất trung kinh tởm đó đã để lại trong các khả năng của tâm trí một thói quen hướng chiều về tội lỗi. Vì thế, chúng ta phải luôn hối tiếc đến hơi thở cuối đời vì đã hiểu biết quá ít, yêu mến quá ít, tạ ơn quá ít Đấng Tạo hóa của chúng ta[19]. Mỗi chúng ta đều bị khuynh hướng sâu xa nhất của bản thể quy hướng vào chính mình, thay vì hướng trực tiếp đến Thiên Chúa, chúng ta liên hệ mọi thứ với chính mình thay vì quy chiếu tất cả mọi thứ cho Đấng Tạo Thành. Đó là lý do tại sao để tìm lại Người, điều cốt yếu là phải thật sự ao ước chết đi đối với chính mình[20].

3.2. Chết đi đối với thế gian

         Ơn gọi Mến Thánh Giá thật cao quý, cao quý đến nỗi Đức Cha Lambert khẳng định với các nữ tu Mến Thánh Giá tiên khởi: “Nếu các con muốn đi theo con đường trọn lành này, thì các con sẽ đạt tới mức độ rất cao trong sự hiểu biết và yêu mến Đức Giê-su Ki-tô. Đó là điều làm nên tất cả hạnh phúc đời này và đời sau”[21]. Nơi khác ngài viết: “Thật rất đáng kinh ngạc, vì người ta tìm ở đâu đâu những phương thế cần thiết cho việc nên thánh, chứ không tìm nơi Thánh Giá…” và rằng: “vác Thánh Giá Chúa Cứu Thế trong tâm hồn và ngoài thể xác là việc đạo đức vượt trên các việc đạo đức khác”[22]. Dầu vậy, Đức cha cũng thấu hiểu không phải dễ dàng để được bền đỗ dài lâu trong ơn gọi này, vì thế, sau khi nhận lời khấn của hai nữ tu đầu tiên là chị Anê và Paula, trước khi trở về Xiêm La, vào ngày 26 tháng 2 năm 1760, tại Cửa khẩu Đàng Ngoài, ngài viết cho họ một bức thư trong đó có đoạn ngài căn dặn như sau: “Các con thấy được rằng ơn gọi của mình cao trọng dường nào và các con đã chết đi đối với thế gian, nghĩa là đối với các giác quan, bản tính tự nhiên và lý trí người đời, để từ nay chỉ sống bằng những châm ngôn, những thực hành và bằng chính đời sống của Chúa Giêsu Kitô”.

Đức cha Lambert giải thích: Chết đi đối với thế gian đó là chết đi đối với các giác quan, chết đi đối với bản tính tự nhiên nơi con người mình và chết đi đối với lý trí người đời. Có thể nói đây là bản tóm tắt về những thực hành khổ chế mà người nữ tu Mến Thánh Giá phải lưu tâm tập luyện hằng ngày để nên thánh.

Theo các nhà tu đức con người chịu cám dỗ theo ba cách: thế gian, xác thịt và ma quỷ. Xác thịt nhắm điều khiển thể xác, thế gian nhắm chế ngự thể xác cùng tinh thần và ma quỷ nhắm thu tóm cả ba: thể xác, tinh thần và linh hồn. Xác thịt cám dỗ từ bên trong, thế gian cám dỗ từ bên ngoài và ma quỷ kết hợp cả hai[23].

Trong thư thứ nhất, thánh Gioan diễn tả cám dỗ của thế gian và xác thịt như sau:“Vì mọi sự trong thế gian: như dục vọng của tính xác thịt, dục vọng của đôi mắt và thói cậy mình có của, tất cả những cái đó không phát xuất từ Chúa Cha, nhưng phát xuất từ thế gian” (1Ga 2.16).

          Vì thế, Giáo Hội dạy Nước Thiên Chúa mà đời tu làm chứng rằng vượt trên mọi sự trần thế”[24], tu sĩ phải trở nên nhân chứng khước từ những gì mà thánh Gioan tông đồ gọi là “thế gian” và “các dục vọng của nó”, khởi đi từ yêu cầu của Chúa Giê-su đối với các môn đệ là hãy giữ mình để không thuộc về thế gian, mà ngày nay thường được nhắc đến, chính là tính thế tục đang có nguy cơ nắm giữ tiêu chuẩn suy nghĩ, hành động của các tu sĩ. Đức Thánh Cha Phanxico nhắc chúng ta hãy nhớ lời cầu nguyện của Chúa Giê-su trong Phòng Tiệc Ly:“Con không xin Cha lấy họ ra khỏi thế gian, nhưng xin Cha gìn giữ họ khỏi tinh thần thế gian”. Khi người ta theo các tiêu chuẩn của thế gian thay vì các tiêu chuẩn của Chúa Giêsu, thì đó là hoàn toàn đi ngược lại điều vốn là đặc trưng của sự thánh hiến tu trì”[25].

Linh đạo Mến Thánh Giá mời gọi chị em luôn “hướng trọn lòng trí vào Chúa Giê-su Ki-tô Chịu- Đóng –Đinh” trong mọi thời khắc của cuộc sống, chính là cách để bảo vệ chúng ta không bị tính thế tục dính chặt vào mình. Và để không đầu hàng nó, còn cần phải có sự khổ hạnh đáng kể, xuất phát từ tình yêu và sự chiêm ngắm Thánh Giá Chúa Giêsu Kitô mỗi ngày.

3.2.1. Chết đi đối với các giác quan

Sách Cách ngôn ca tụng: “Tai để nghe, mắt để thấy, Đức Chúa làm nên cả hai” (Cn 20,12). Thiên Chúa dựng nên cho điều lành chứ không cho điều dữ, nghĩa là mọi giác quan được sử dụng như những khí cụ làm vinh danh Thiên Chúa trên Trời, chứ không phải để cho ma quỷ lợi dụng để trục lợi. Thánh Kinh và các nhà tu đức mọi thời dạy rất nhiều về việc phải canh chừng các cơ quan khả giác. Hãy học làm chủ giác quan. Hãy tập khổ chế đôi mắt: đừng tò mò những gì thuộc về thế gian tục lụy, cách riêng qua đôi mắt, có khuynh hướng khuấy động xác thịt. Giữ gìn đôi mắt giúp gìn giữ tâm hồn trong sạch và linh hồn thanh khiết. Hãy làm chủ những gì mình nói, vì ngôn ngữ là một năng lực mạnh mẽ, nó có thể là khí cụ bình an hay khí cụ chiến tranh: “từ cùng một cái miệng, phát xuất lời chúc tụng lẫn lời nguyền rủa, như vậy là không được” (x Gc 3, 5-10). Hãy canh chừng những gì mình nghe để khỏi vô tình hỗ trợ và động viên những nỗ lực của ma quỷ: “Đừng bao giờ quên rằng, linh hồn bị đầu độc qua đôi tai, cũng như cơ thể bị đầu độc qua miệng lưỡi” (Thánh Phanxico Salesio). Đừng để tri giác của mình quanh quẩn bên những dịp tội. Nhờ ơn Chúa, chúng ta phải đóng kín cửa nhà và đẩy lùi mọi nỗ lực thâm nhập của ma quỷ, bởi vì “ngay cả khi chúng ta không muốn, bọn cướp vẫn lẻn vào qua những cánh cửa giác quan. Làm sao ngôi nhà có thể không tối sầm lại bởi khói đen bên ngoài ùa vào qua những cánh cửa nhỏ đã mở toang” (Thánh Gregorio Nazianzus) [26].

Chân phước Henry Suso khuyên: “Hãy điều khiển giác quan, gìn giữ môi miệng, kiềm chế cái lưỡi, chinh phục con tim, gánh chịu mọi khiêu khích bằng lòng mến…và con sẽ thực hiện trọn vẹn thánh ý Chúa”[27].

3.2.2. Chết đi đối với bản tính tự nhiên

Việc tuân giữ nếp sống tu trì giúp người tu sĩ từ bỏ những thói hư tật xấu, kìm hãm những cảm xúc và đam mê của bản tính tự nhiên. Ngoài ra, việc khổ chế được gắn liền với đời tu đòi hỏi người tu sĩ phải tậpquen sống thinh lặng và cô tịch, kể cả trong các hội dòng chuyên việc tông đồ”…Cô tịch và thinh lặng, để dễ lắng nghe và nghiền ngẫm Lời Thiên Chúa đồng thời giúp tạo nên sự trưởng thành tâm linh của con người và hiệp thông huynh đệ thực sự trong Đức Ki-tô[28].

Có thể nói, Đức cha Lambert de la Motte, rút từ kinh nghiệm truyền giáo, khi chứng kiến những hậu quả khôn lường của một nếp sống buông thả nơi một số thừa sai, ngài đã khuyên dạy chị em Mến Thánh Giá như đã khuyên dạy các thừa sai là cần phải chết đi đối với bản tính tự nhiên, một cách cụ thể là triệt để chống lại:

  • Tính thích dễ dãi, nuông chiều thể xác

Một sự quá lo lắng cho thân xác và những sự dễ dãi không chính đáng đã dần dần làm suy yếu lòng yêu mến Thiên Chúa nơi nhiều thừa sai khiến họ coi trọng xác thịt hơn tâm linh”[29]. Đối với nữ tu Mến Thánh Giá, Đức cha Lambert từng nhắc đi nhắc lại: vì đã dâng mình trọn vẹn cho Thiên Chúa nên chị em phải luôn ý thức bản thân “không còn thuộc về mình nữa (x.1 Cr 6,19-20) nhưng hoàn toàn thuộc về Chúa Giê-su Ki-tô”. Cảm thức “thuộc về” càng sâu nặng, thì càng giúp người tu sĩ đoạn tuyệt với thói yêu mình, biết tìm kiếm sự trong sạch chứ không phải sự đồi trụy. Nhờ biết giữ sự cô tịch cần thiết, cầu nguyện tích cực, cầu nguyện bền bỉ và cầu nguyện thường xuyên, trong niềm tin vào Chúa Giê-su Kitô, họ đóng đinh con người cũ hư hỏng đầy nhục dục vàoThập giá để có thể trở thành con người mới trong Đức Giêsu Kitô (x. Cl 3, 9-10; 2 Cr 5, 17; Gl 2,20)[30]. Họ sống niềm xác tín như Chân phước Giáo hoàng Phaolo VI diễn giải: “Khi tuyên khấn các lời khuyên Phúc Âm, các tu sĩ tự dấn thân làm tất cả những gì cần thiết để có thể đào sâu và làm tăng triển những gì họ đã cam kết, và như vậy, họ đã tự nguyện chọn con đường thập giá để chứng tỏ tình yêu lớn lao nhất như Đức Kitô đã làm”[31].

  • Tính tự cao và tìm kiếm danh vọng

Tính tự cao dẫn đến một cám dỗ khác là “sự nguội lạnh”. Các bậc thầy linh đạo coi đây là một hình thức suy nhược do thiếu khổ chế, chểnh mảng canh thức, lơ là đời sống nội tâm[32]. Việc thèm khát, tìm kiếm danh dự và phần thưởng thế gian cũng có thể trở nên cứ điểm của lòng kiêu ngạo.

Theo Đức Cha Lambert, tính tự phụ một khi đã xâm nhập vào tâm hồn của vị thừa sai, nó liền phá hủy công trình của Thiên Chúa khiến vị này liều lĩnh mà không lường được sức của mình. Ma quỷ khôn khéo làm cho vị thừa sai nghĩ rằng phải tận dụng tối đa những điều kiện thuận lợi về ân sủng lẫn vật chất. Sau khi bị mắc lừa, vị thừa sai sẽ lao vào quá nhiều công việc một cách bất cẩn, đến nỗi bỏ bê những việc đạo đức hằng ngày như cầu nguyện, xét mình, đời sống nội tâm; ngược lại thích sống hướng ngoại, không chu toàn bổn phận thậm chí đến quên mất mình là ai ?[33].

Nền văn hóa thế tục ngày nay cũng dễ lôi kéo người tu sĩ đến một lối sống ẩn giấu tinh thần thế gian mang tính thiêng liêng như thế, nó được hóa trang bằng những thành tích, những hiệu quả bên ngoài, cảm thấy thỏa mãn với những con số thống kê…nhưng thực chất chỉ để tìm kiếm vinh quang của chính mình, nó lấy khỏi chúng ta sự hiện diện của Chúa Giêsu khiêm nhường và chịu sỉ nhục, Chúa gần gũi với mọi người, Chúa Kitô đau khổ với tất cả những người đau khổ, Đấng được dân chúng tôn thờ, Đấng biết ai là bạn thật[34].

Sống khổ chế là sống tinh thần hạt lúa gieo vào lòng đất phải chết đi mới sinh nhiều bông hạt. Cũng vậy, người tu sĩ nếu không dành một chỗ trong đời sống của mình cho “một sự khắc khổ vui tươi và quân bình” (CT 30), và tự nguyện chấp nhận một số giới hạn nào đó, chúng ta có nguy cơ đánh mất sự tự do thiêng liêng cần thiết để sống các lời khuyên Phúc Âm[35].

  • Tính tham lam

Tham lam cũng là tôn thờ ngẫu tượng (x. Cl 3. 5). Đức Cha Lambert nhận xét:“Lòng tham vô đáy muốn chiếm hữu tất cả dẫn đến cuộc sống xa hoa và yếu nhược. Từ đó ta mới hiểu nết xấu này đã biến những môn đồ thành tín của đức nghèo khó Tin Mừng trở nên những nô lệ xấu xa của tiền bạc. Đó là cách thức dẫn đưa những tôi tớ của Chúa Kitô đến chỗ phục vụ ma quỉ”[36]. Các nhà tu đức ngày nay cũng cho rằng sự tích lũy của cải thái quá, hay sự ky cóp tiền bạc, tìm kiếm sự an toàn trần tục hơn là an toàn vĩnh cửu nơi Thiên Chúa tự nó sẽ biến thành tham lam, phàm ăn, tự phụ và mở lối cho satan thâm nhập. Ngược lại, một lối sống giản dị, khiêm nhường là một trong những cách phòng ngự satan tốt nhất[37].

Giáo huấn của Giáo Hội cũng lưu ý người sống đời thánh hiến: “Không có sự khắc khổ và từ bỏ, chính sự tận hiến có thể bị phương hại, bởi vì chúng ta không thể làm chứng công khai cho Đức Ki-tô thanh bần, khiết tịnh, và tuân phục mà không có khổ chế”[38]. Đối với những Người Yêu mến Thánh Giá, Đức Cha Lambert còn đòi hỏi:“Họ phải năng trao đổi với Thiên Chúa về những phương thế làm sáng danh Ngài và cứu độ anh chị em đồng loại. Hãm mình đền tội cho chính mình và cho muôn dân […] Đời sống của họ phải là một họa ảnh hoàn hảo cuộc đời của Chúa Giêsu Kitô khi còn ở trần gian”[39]. Đó là một Đức Giêsu khó nghèo, trần trụi và phó thác trọn vẹn trong tay Chúa Cha.

3.2.3. Chết đi đối với lý trí người đời

          Lý trí bao gồm những gì được gọi chung là ý nghĩ, trí tuệ và tưởng tượng. Thần học tu đức Kitô giáo đã phác hoạ một vài thực hành khổ chế áp dụng cho các cơ năng tinh thần nhằm tiêu diệt tính kiêu căng và ích kỷ như sau[40]:

  • Lý trí

Cần phải hướng đến việc truy tầm chân lý, dẹp bỏ những phán đoán nông nổi dựa theo thành kiến, cảm xúc và dư luận v.v, và nhất là đi tìm sự khôn ngoan của Thiên Chúa chứ không phải sự khôn ngoan của thế gian. Điều này giả thiết việc chuyên chăm nghiền gẫm Lời Chúa ngõ hầu huấn luyện trí phán đoán theo đúng tinh thần Phúc âm.

  • Ý chí

Cần được uốn nắn để không tìm thỏa mãn sở thích riêng tư, nhưng tìm kiếm ý Chúa, và vì Chúa sẵn sàng khước từ ý riêng để phục vụ Nước Trời. Như vậy việc thanh luyện ý chí nhằm giúp cho ta tạo ra ý hướng ngay thẳng trong khi hành động: đi tìm vinh danh Chúa, chứ không phải tiếng khen của người đời. Thánh Augustinô giải thích: “khi ý chí rời bỏ Đấng không đổi thay để hướng về cái bị tạo dựng và thay đổi, thì nó sinh ra tội”[41].

  • Óc tưởng tượng và ký ức

Chú ý tập trung tư tưởng, không để cho óc tưởng tượng lôi cuốn dông dài. Tránh việc ăn không ngồi rồi, thả hồn theo mộng để mặc xác thịt điều khiển mình.

Khổ chế trong trí tưởng tượng còn là không phí thời gian cho những hồi ức vô bổ và không thích đáng, làm lãng phí thời gian quý báu và khiến chúng ta bỏ lỡ nhiều cơ hội chính đáng làm việc tốt. Thiếu sự khổ chế nội tâm, trí tưởng tượng và óc tò mò, là một trong những kẻ thù lớn nhất cản trở việc nên thánh[42].

– Đối với việc phát triển công nghệ rất nhanh trong thế giới hiện đại, thiết tưởng sự khổ chế trí tuệ cũng cần phải nhắc tới: công nghệ được sử dụng thích đáng, có thể trở nên nguồn ân phúc; ngược lại nó có thể trở thành một lời nguyền. Chúng ta không tránh né những tiến bộ, cũng không để tiến bộ điều khiển mình. Chúng ta nắm lấy công nghệ tùy theo mức độ nó dẫn ta đến gần Chúa và thích hợp với ơn gọi của mình. Không cần chúng ta phải trở nên những ẩn sĩ để gặp gỡ Thiên Chúa. Tuy nhiên, cũng nên kiểm lại xem mỗi ngày bao nhiêu thời giờ không cần thiết ta dành cho máy vi tính, iphone, mạng xã hội, phim ảnh, giải trí…rồi đem so sánh với thời gian mình dành để cầu nguyện, để sống với “Đối tượng duy nhất của lòng trí chúng ta, Đức Giê-su Ki-tô Chịu Đóng Đinh” mà chúng ta tuyên xưng mỗi ngày[43].

  • Tư tưởng

Cần phải loại bỏ ngay những ý tưởng xấu, hướng chiều về đam mê (kiêu ngạo, ghen tương, thù hận, giận dữ, tà dâm, v.v). Thánh Toma More dạy: “Hãy để lòng trí con đầy ắp những ý tưởng tốt lành, bằng không, kẻ thù sẽ gieo rắc những điều xấu xa vào đó. Chúng không thể trống rỗng”. Ngoài ra cũng cần tránh tật tọc mạch tìm hiểu những chuyện không cần thiết[44].

Tóm lại, người nữ tu Mến Thánh Giá sống trong thế giới hiện đại, luôn đầy dẫy mọi thứ cám dỗ tinh vi của ma quỷ, phải là những chiến sĩ thiêng liêng, hãy sống bằng việc chết đi. Hãy cầu xin ơn này. Chết để nên thánh, để sống theo điều mà Đấng Sáng lập ước ao nơi con cái của ngài là“chỉ sống cho Chúa, chỉ sống bằng những châm ngôn, những thực hành và bằng chính đời sống của Chúa Giêsu Kitô”[45]. Đức cha Lambert giải thích: chính nhờ sự chết và sống trong Đức Kitô như thế, chúng ta mới có được “trí hiểu biết và khả năng hoạt động để chu toàn những nhiệm vụ cao quý của mình. Nếu không theo đường hướng đó, chắc chắn các hoạt động của nhà truyền giáo sẽ tiêm nhiễm xu hướng sống theo bản tính tự nhiên hoặc theo sự khôn ngoan thế gian là kẻ thù của đời sống Phúc Âm”[46].

3.3. Khổ chế vì tình yêu đối với sứ mạng

          3.3.1. Động lực của khổ chế

          Động lực của việc thực hành khổ chế chính là đức mến và niềm vui phụng sự Thiên Chúa: “Khổ chế sẽ dễ dàng được đón nhận hơn nếu, cũng như toàn bộ đời sống Kitô hữu, nó được thúc đẩy bởi lòng yêu mến Chúa Kitô và niềm vui phụng sự Người”[47]. Theo nghĩa đó, ý định của Đức cha Lambert trong việc lập Hội Những Người Mến Thánh Giá cũng là để quy tụ những người ước ao “hoàn toàn hiến thân phụng sự Thiên Chúa”[48]“dùng kinh nguyện, hy sinh, hãm mình làm cho ý định của Con Thiên Chúa muốn cứu độ mọi người đạt được hiệu quả, không chỉ đối với lương dân mà còn đối với những người sống trong tội lỗi”[49]. Có lần, trong lúc nguyện ngắm, ngài cảm nhận trong nội tâm: “Tôi có một ước nguyện lớn lao là chứng tỏ một tình yêu phi thường đối với Chúa Giêsu Kitô”[50].

Chính trong bối cảnh của đức mến là“tình yêu phi thường”này, mà chúng ta phải xem các việc khổ chế Đức cha đề ra như “hãm mình phạt xác, đánh tội, mang giây xích có gắn đinh nhọn…”[51] chỉ là phương tiện chứ không phải là cứu cánh trong đời sống tâm linh: vai trò của chúng là dẹp bỏ những trở ngại cho sự triển nở của đức mến, hoặc để biểu lộ nhiệt tình yêu mến. Giá trị của các việc khổ chế nằm ở đức ái chứ không phải ở sự đau đớn mà nó gây ra[52]. Những hình thức khổ chế cổ truyền thời Đức Cha Lambert do đó không còn phù hợp cho người thời nay, chúng cần được thanh lọc và kiện toàn. Tuy nhiên, nếu nhìn dưới nhãn quan đức ái thì giáo huấn của ngài về khổ chế vẫn có giá trị đáng kể trong nền tu đức hiện đại.

          3.3.2. Để nên đồng dạng với Đức Giê-su Ki-tô

Người nữ tu Mến Thánh Giá cần thấu hiểu trọn vẹn châm ngôn này của Chúa Giêsu: “Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo” (Mc 8. 34). “Theo Chúa”, là một lời mời gọi dịu ngọt cho cõi lòng: thuộc trọn về Chúa, cùng với Chúa tiếp nối nơi bản thân mình cuộc đời đau khổ của Người cho đến tận thế. Bằng cách này nhằm đạt được sự hiểu biết Chúa nhiều hơn và yêu mến Người tận tình hơn[53]. “Được Chúa” và nhất là được “hiểu biết Chúa hơn”, không phải chỉ là một sự hiểu biết lý thuyết, nhưng bằng sự hiểu biết thực nghiệm, đó là ao ước trở nên đồng hình đồng dạng với Chúa. Tình yêu say sưa tự nhiên phát sinh ra việc bắt chước, lấy Chúa Kitô làm kiểu mẫu, mang lấy tâm tình của Chúa Giêsu (x. Pl 2.5), trở nên giống Chúa trong suy nghĩ và hành động, nhất là thông phần với những đau khổ của Đấng Yêu Mến[54]. Tình yêu đã thúc bách Chúa nên giống chúng ta, mang lấy khốn cực và đau khổ vì chúng ta, thì tình yêu cũng thúc bách những người Mến Thánh Giá ưa thích điều Chúa ưa thích, thông phần cuộc tử nạn của Chúa, để thành những họa ảnh của cuộc đời Chúa Giêsu nơi trần thế. Hơn nữa, những ai thông hiệp với đau khổ của Đức Kitô đều nhìn thấy mầu nhiệm vượt qua của Thập Giá và Phục Sinh. Đó là làm cho Chúa sống lại nơi chúng ta và đồng hóa chúng ta với Chúa[55].

          3.3.4. Vì tình yêu đối với các linh hồn

Tâm hồn người tông đồ Mến Thánh Giá là tâm hồn kết ước đặc biệt với Chúa Giêsu Kitô Chịu-Đóng-Đinh, nên cũng có lòng yêu mến phần rỗi các linh hồn như Đấng mình kết ước. Đây chính là bí quyết của lòng nhiệt thành tông đồ, sẵn sàng chịu vất vả, hy sinh tất cả vì Chúa và vì phần rỗi các linh hồn; việc Đức Cha Lambert chỉ định Những Người Mến Thánh Giá, phải dùng “kinh nguyện và việc sám hối”  để làm cho ý định cứu rỗi của Con Thiên Chúa được sinh hiệu quả[56], là để họ được tham dự vào sứ mạng cứu độ của Đức Giêsu Cứu Thế. Vì vậy, cũng như các thừa sai, người nữ tu Mến Thánh Giá phải tìm thấy trong tinh thần khổ chế và cầu nguyện một phương cách để hoàn thiện chính mình và nhờ những phương thức này giúp người tông đồ đạt được hiệu quả hơn trong việc cứu rỗi và thánh hoá kẻ khác[57].

Đức cha Lambert còn nói rõ: “Kinh nghiệm hằng ngày cho ta thấy mọi thứ đều thuận lợi cho những ai truyền giáo bằng đời sống khổ chế và cầu nguyện, đồng thời kinh nghiệm cũng dạy ta thiếu những nhân đức này, mọi sự sẽ tan thành mây khói, do đó ta có thể kết luận rằng đời sống khổ chế và cầu nguyện là nền tảng chính yếu của việc truyền giáo[58].

Như vậy, mọi người không trừ ai, bằng cách này hay cách khác đều có thể tham dự vào công trình cứu độ của Đức Kitô như Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolo II giải thích: “Mỗi người cũng được mời gọi tham dự vào sự đau khổ, nhờ đó công cuộc cứu độ được hoàn tất. Họ được mời gọi tham dự vào sự đau khổ mà nhờ đó mọi khổ đau của con người cũng được cứu chuộc. Khi thực hiện ơn cứu độ bằng đau khổ, Đức Kitô đồng thời cũng nâng cao đau khổ của con người đến nỗi thông ban cho nó một giá trị cứu độ. Như vậy, qua đau khổ của mình, mọi người đều có thể tham dự vào đau khổ cứu độ của Đức Kitô[59].

 

[1] PI, số 36.

[2] x. HĐGMVN – Ủy ban giáo lý đức tin – Tiểu ban từ vựng, Từ điển Công giáo, Tôn giáo, 2011, tr. 189.

[3] x. MINH VẬN (CMC), Sống thánh, phương thế thánh hóa bản thân, https://www.thoidiemmaria.net/TDM2010/TuDuc/ThanhHoaKhoa-Tap2-BaBacThanhThien-KhoCheBanThan.htm.

[4] x. J.A. HARDON Sj., Tự điển Công giáo phổ thông, New York, 1985, tr. 431.

[5] x. HUỲNH TRỤ, Khổ chế, trong https://tgpsaigon.net/bai-viet/kho-che-42534.

[6] x. GLHTCG, số 2015; 2340.

[7] GLHTCG, số 908.

[8] Nt, số 2043.

[9] x. PHAN TẤN THÀNH OP, “Đời Sống Tâm Linh”, Tập III, chương 9,

mục 3 (LHNB), 2002.

[10] Jacques LECLERCQ, “Sự Khổ Chế và Sự Không Dính Bén”, Hồng Đức 2015, tr. 5.

[11] Nhóm NCLĐMTG, Ltk1, trong “Tuyển tập Bút tích (Di Cảo) của Đức Cha Pierre Lambert de La Motte, vị Đại diện Tông tòa Đàng Trong, Đấng Sáng lập Dòng Mến Thánh Giá 1624- 1679; (LHNB), Sài Gòn, 2017, tr.27.

[12] VC 1.

[13] x. ĐGH PHANXICO, “Sống tốt, Con là một tuyệt tác”, Đồng Nai, 2022,

tr.172-173.

[14] x. PI, số 36-38.

[15] x. Jared ORTIZ, The Catholic World Report, http://daminhvn.net/duc-tin-van-hoa/than-hoc/su-chet-va-su-song-trong-kinh-tin-kinh-ni-xe-a.html.

[16] Nt.

[17] x. Réginald Garrigou-Lagrange O.P, Khổ chế trong « Nhận biết tình yêu đối với Thiên Chúa »; https://www.augustino.net/nhan-biet-tinh-yeu-doi-voi-thien-chua-chuong-06.

[18] VC 38

[19] x. Nhóm NCLĐMTG, Dốc lòng, trong “Tuyển tập Bút tích…”; sđd, tr.128.

[20] x. Jared ORTIZ, sđd.

[21] Nhóm NCLĐMTG, Thư gửi các chị em đã khấn giữ đức khiết tịnh và đang sống vơi nhau từ nhiều năm tại Đàng Ngoài, năm 1670 (Blt), trong “Tuyển tập Bút tích…”, sđd, tr. 21-23.

[22] Nhóm NCLĐMTG, Những cái nhìn mới của một Thừa sai Tông tòa nhận được trong lúc nguyện ngắm, về việc thành lập Hội Tông đồ và Hiệp Hội Những Người Yêu Mến Thánh Giá Đức Giê-su Ki-tô. (Bts), trong “Tuyển tập Bút tích…”, sđd, tr.63.

[23] x. John LABRIOLA, “Cuộc chiến thiêng liêng”, Hồng Đức, 2014, tr.67-68

[24] GH 44.

[25] x. ĐGH PHANXICO, “Sức mạnh của ơn gọi đời sống thánh hiến ngày nay”, Đồng Nai, 2019, tr. 91- 95.

[26] x. John LABRIOLA, sđd, tr. 164tt.

[27] Nt.

[28] x. PI, số 38.

[29] x.FRANCOIS PALLU- PIERRE LAMBERT DE LA MOTTE, « Monita ad Missionarios» I,1. (Nhắn nhủ các thừa sai, Công nghị Ayutthaya 1664), bản dịch của TGM Kon Tum, trong « Khơi nguồn tiếp bước », LHNB, 2004.

[30] x. John LABRIOLA, sđd, tr.70-71.

[31] ET, số 29.

[32] GLHTCG, số 2733.

[33] x. Monita I, 2.

[34] x.Bài giảng của ĐTC Phanxico https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/dtc-phanxico-cu-hanh-le-truyen-dau-tai-den-tho-thanh-phero-44851.

[35] x.YTCY, số 31.

[36] Monita I,1.

[37] x. Jonh LABRIOLA, sđd, tr.184 tt.

[38] YTCY, số 31.

[39] Nhóm NCLĐMTG, 1Nng, trong “Tuyển tập Bút tích…”, sđd, tr. 46-47.

[40] x. PHAN TẤN THÀNH, “Đời Sống Tâm Linh”, sđd.

[41] Thánh AUGUSTINO, “De civitate Dei” Chương XII.6 ; https://hocvienofm.com/bai-viet/than-hoc-luan-ly/thanh-augustino-noi-gi-ve-toi-loi-va-sa-nga.

[42] FERNANDEZ, Suy niệm Lời Chúa Chúa nhật VIII thường niên A, https://www.giaophanbaria.org/chia-se-loi-chua/chua-nhat-va-le-trong/suy-niem-chua-nhat/2014/02/25/don-so-nhu-tre-nho-fernandez.html.

[43] x. John LABROLA, sđd, tr.185.

[44] x. PHAN TẤN THÀNH, sđd.

[45] x. Nhóm NCLĐMTG, Ltk, Btt, trong “Tuyển tập Bút tích…”, sđd tr. 27, 41.

[46] x. Nhóm NCLĐMTG, Suy nghĩ về cuộc hành trình bất thành sang Trung Hoa, năm 1663, trong “Tuyển tập Bút tích…”, sđd, tr. 139.

[47] PI, số 36.

[48] x. Nhóm NCLĐMTG, Ltk 6, trong “Tuyển tập Bút tích, sđd, tr. 28.

[49] x. Nhóm NCLĐMTG, Bts, sđd, tr.61.

[50] Nt, tr.59.

[51] x. Nhóm NCLĐMTG, Ltk, Quy tắc, đ.8T, trong “Tuyển tập Bút tích…”, sđd, tr. 31.

[52] x. PHAN TẤN THÀNH, sđd.

[53] x. Nhóm NCLĐ MTG, Btt, trong “Tuyển tập Bút tích…”, sđd, tr. 33.

[54] x. E.Hocedez, S.j. “Tin Mừng về đau khổ”, New Orleans, 1993,

  1. 102- 108.

[55] Nt.

[56] x. Nhóm NCLĐMTG, Bts, trong “Tuyển tập Bút tích…”, sđd, tr. 61.

[57] x. Monita, II, 2.

[58] Nt.

[59] GIOAN PHAOLO II, “Tông thư Salvifici Doloris –Về Ý Nghĩa đau khổ của con người theo Kitô giáo, 1984, số 19.