
(Mt 21:1-11; Is 50:4-7; Pl 2:6-11; Mt 26:14 – 27:66)
Hôm nay, chúng ta bắt đầu cùng với Giáo Hội cử hành Lễ Lá. Chúa Nhật này cũng được gọi là Chúa Nhật Thương Khó, vì chúng ta sẽ nghe trong bài Tin Mừng về cuộc thương khó của Chúa Giêsu. Với Chúa Nhật Lễ Lá, chúng ta bắt đầu bước vào tuần thánh. Trong tuần này, nhất là Tam Nhật Thánh, chúng ta sẽ nghe về một câu chuyện tình đẹp nhất trong lịch sử nhân loại. Đó là chuyện tình của một người mang tên Giêsu, Người đã chứng minh điều mình đã nói với các môn đệ: “Không có tình yêu nào cao hơn tình yêu của người hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15:13). Đây là câu chuyện tình của một người đã yêu thương những kẻ thuộc về mình và yêu thương họ đến cùng (x. Ga 13:1). Chúng ta chỉ biết và hiểu được tình yêu này khi chúng ta liên kết nó với mầu nhiệm của con người, hay đúng hơn là mầu nhiệm của tội lỗi con người. Một cách cụ thể hơn, trong phụng vụ hôm nay, chúng ta sẽ nghe hai bài Tin Mừng, một bài đọc trước khi chúng ta kiệu lá và một bài Tin Mừng đọc trong phụng vụ lời Chúa như bình thường. Hai bài Tin Mừng này đưa chúng ta vào mầu nhiệm của con người qua mọi thời đại. Trong bài Tin Mừng đọc trong nghi thức rước lá, chúng ta thấy các môn đệ và những người Do Thái lên Giêrusalem có thái độ rất phấn khởi vui mừng. Họ đón mừng và tung hô Chúa Giêsu vào thành Giêrusalem như một vị vua: “Dân chúng, người đi trước kẻ theo sau, reo hò vang dậy: Hoan hô Con vua Đavít! Chúc tụng Đấng ngự đến nhân danh Đức Chúa! Hoan hô trên các tầng trời” (Mt 21:9). Tuy nhiên, thái độ đón mừng và tung hô này nhanh chóng thay đổi khi Philatô hỏi họ: Các ngươi muốn đóng đinh vua các ngươi sao? Thì tất cả đều hô to: đóng đinh nó vào thập giá (x. Mt 26:22). Mặc dù các môn đệ không hô to với dân chúng, nhưng hành động của họ cũng không kém phần nghiêm trọng trong cuộc thương khó của Chúa Giêsu: Giuđa phản bội Ngài, Phêrô chối Ngài, các môn đệ còn lại thì bỏ Ngài mà chạy. Những chi tiết trên cho chúng ta thấy sự tương phản giữa mầu nhiệm tình yêu của Thiên Chúa và huyền nhiệm về sự yếu đuối tội lỗi của con người. Thiên Chúa yêu thương chúng ta đến cùng. Tình yêu của Ngài không bao giờ thay đổi. Nhưng tình yêu của con người dành cho Thiên Chúa thường thay đổi theo thời gian: có khi rất mặn mà, nhưng cũng có khi rất tẻ nhạt. Tình yêu chúng ta đang dành cho Chúa như thế nào: sâu đậm hay nửa vời? Chúng ta hãy để lời Chúa đưa chúng ta vào quỹ đạo tình yêu của Ngài hầu đáp lại với một tinh yêu thật đẹp dành cho Ngài.
Bài đọc 1 trình bày cho chúng ta hình ảnh của Người Tôi Tớ Đau Khổ của Đức Chúa. Ngôn sứ Isaia đưa ra cho chúng ta những đặc tính sau của người tôi tớ đau khổ của Đức Chúa: (1) nói năng như người môn đệ, là người dùng lời nói để “nâng đỡ ai rã rời kiệt sức” (Is 50:4); (2) được đánh thức mỗi buổi sáng để lắng nghe Đức Chúa như một người môn đệ; (3) được Đức Chúa mở tai và không cưỡng lại hay chạy trốn Đức Chúa (x. Is 50:5); (4) sẵn sàng chịu đựng những đau khổ, mắng nhiếc, phỉ nhổ mà không chống lại (Is 50:6); (5) trước những đau khổ, vẫn luôn luôn đặt trọn niềm tín thác vào Đức Chúa và không thấy thẹn thùng xấu hổ vì phải chịu sỉ nhục vì danh Đức Chúa (x. Is 50:7). Các học giả Kinh Thánh xem đây là bức hình tuyệt đẹp nhất mà Ngôn Sứ Isaia vẽ về Chúa Giêsu. Bức hình này cũng là bức hình mà Thiên Chúa mời gọi chúng ta cố gắng vẽ lại trong cuộc đời của mình. Nói cách cụ thể hơn, là những người môn đệ của Chúa Giêsu, chúng ta được mời gọi phác hoạ lại hình ảnh của Chúa Giêsu trong cuộc đời mình, nhất là cuộc thương khó sinh ơn cứu độ của Ngài. Đặc tính cần thiết nhất của người môn đệ mà chúng ta có thể rút ra từ những điểm trên là hoàn toàn tín thác trong tương quan với Thiên Chúa và hoàn toàn hiền lành, khiêm nhường trong tương quan với người khác, nhất là những người làm tổn thương chúng ta. Chỉ có sự hiền lành và làm việc tốt như là cách thức chống lại sự chống đối và làm hại người khác mới làm cho chuỗi sự dữ bị chấm dứt và cuộc sống sẽ trở nên thật đẹp. Đây là điều Chúa Giêsu thực hiện trong cuộc thương khó của Ngài.
Trong bài đọc 2, Thánh Phaolô đặt trước mặt các tín hữu Philipphê tấm gương tự hạ của Chúa Giêsu để họ noi theo. Đây chính là bài ca Kenosis [tự hạ] của Chúa Giêsu mà đã gợi hứng cho biết bao nhiêu tâm hồn tìm thấy con đường nên thánh. Tâm điểm của con đường kenosis của Chúa Giêsu là sự trút bỏ vinh quang của mình để mặc lấy bản tính con người: “Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế” (Pl 2:6-7). Nhiều người trong chúng ta cần học ở Chúa Giêsu sự hoàn toàn từ bỏ. Tự bản chất, Ngài là Thiên Chúa, nhưng Ngài đã trút bỏ vinh quang Thiên Chúa để trở nên giống chúng ta trong mọi sự, ngoại trừ tội lỗi. Điều này cho thấy, Ngài hoàn toàn muốn sống liên đới hoặc có thể nói là ‘đồng hoá’ chính mình với chúng ta. Còn chúng ta, tự bản chất là con người mà lại muốn làm chúa: chúng ta muốn thay Chúa điều khiển thế giới, điều khiển người khác và nhất là điều khiển vận mệnh cuộc đời chính mính mà không cần đến Ngài. Một số người trong chúng ta khi đạt đến đỉnh cao vinh quang cuộc đời lại trở nên vô cảm trước những nỗi khốn khổ của anh chị em đồng loại. Để biết cảm thông và sống liên đới với những anh chị em kém may mắn hơn mình, chúng ta cần học ở Chúa Giêsu sự hạ mình: “Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự. Chính vì thế, Thiên Chúa đã siêu tôn Người và tặng ban danh hiệu trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu. Như vậy, khi vừa nghe danh thánh Giêsu, cả trên trời dưới đất và trong nơi âm phủ, muôn vật phải bái quỳ; và để tôn vinh Thiên Chúa Cha, mọi loài phải mở miệng tuyên xưng rằng: “Đức Giêsu Kitô là Chúa” (Pl 2:8-11). Chúa Giêsu hạ mình qua sự vâng phục thánh ý Thiên Chúa. Chính trong sự hạ mình này mà Thiên Chúa được tôn vinh. Cuộc đời chúng ta cũng là một chuỗi ngày được mời gọi sống theo thánh ý Chúa. Chúng ta không thể tìm ra và thực hành thánh ý Chúa nếu chúng ta không trở nên khiêm nhường và vâng phục. Chúng ta phải sẵn sàng chết đi con người tội lỗi của mình. Chỉ có như thế, Thiên Chúa mới được tôn vinh trong cuộc đời chúng ta.
Cuối cùng, chúng ta để cho lời Chúa trong bài Thương Khó hướng dẫn suy niệm của chúng ta trong Chúa Nhật Lễ Lá này. Chúng ta không thể trình bày chi tiết toàn bộ bài Thương Khó, điều chúng ta làm là đặt mình vào vị trí của vài nhân vật được chọn lựa trong cuộc Thương Khó để xem xét lại vị trí của chúng ta trong cuộc thương khó của Chúa Giêsu như thế nào.
Bài Thương Khó của Chúa Giêsu theo Thánh Mátthêu được bắt đầu với sự kiện Giuđa Ítcariốt nộp Chúa Giêsu: “Khi ấy, một người trong Nhóm Mười Hai tên là Giuđa Ítcariốt, đi gặp các thượng tế mà nói: ‘Tôi nộp ông Giêsu cho quý vị, thì quý vị muốn cho tôi bao nhiêu.’ Họ quyết định cho hắn ba mươi đồng bạc. Từ lúc đó, hắn cố tìm dịp thuận tiện để nộp Đức Giêsu” (Mt 26:14-16). Chúng ta không cần quan tâm đến lý do tại sao Giuđa nộp Chúa Giêsu. Điều chúng ta quan tâm ở đây là ‘sự phản bội’ của một người môn đệ. Không có gì đau khổ cho bằng người mình đã dạy dỗ ba năm, từng chấm chung một đĩa ăn với mình mà phản bội mình. Đây cũng chính là hoàn cảnh của nhiều người trong chúng ta hôm nay khi bị người khác nộp và phản bội. Nhưng trong tương quan với Thiên Chúa, chúng ta phải chân nhận rằng chúng ta đã nhiều lần nộp và phản bội Chúa Giêsu. Chúng ta đã chạy theo ‘những dịp thuận tiện’ để có của cải vật chất hoặc vinh quang phú quý của đời mà nộp Chúa Giêsu.
Hình ảnh thứ hai đó là Phêrô, người Chúa Giêsu đã tuyên xưng Chúa Giêsu là Đức Kitô và đã được trao cho chìa khoá Nước Trời. Cũng theo Chúa Giêsu ba năm, được Chúa Giêsu yêu cách đặc biệt, chứng kiến các phép lạ và những sự kiện quan trọng trong cuộc đời mục vụ công khai của Chúa Giêsu. Vậy mà cuối cùng chối là không biết Chúa Giêsu. Chúng ta thấy còn nỗi đau nào cho bằng nỗi đau này!
Hình ảnh thứ ba là sự gian dối, ghen ghét, khinh bỉ, đánh đập, kết án cách bất công của các kinh sư, kỳ mục, các Thượng Tế, toàn thể Thượng Hội Đồng và Philatô.
Trước sự trao nộp và chối bỏ của hai người môn đệ, sự bỏ rơi của các môn đệ còn lại và bất công của người Do Thái, Chúa Giêsu vẫn yêu họ đến cùng, vẫn bẻ mình ra cho họ trong bữa tiệc ly, vẫn sẵn sàng nhận án bất công, và sẵn sàng chết để chứng minh tình yêu: “Cũng trong bữa ăn, Đức Giê-su cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, rồi bẻ ra, trao cho môn đệ và nói: ‘Anh em cầm lấy mà ăn, đây là mình Thầy.’ Rồi Người cầm lấy chén, dâng lời tạ ơn, trao cho môn đệ và nói: “Tất cả anh em hãy uống chén này, vì đây là máu Thầy, máu Giao Ước, đổ ra cho muôn người được tha tội. Thầy bảo cho anh em biết: từ nay, Thầy không còn uống thứ sản phẩm này của cây nho, cho đến ngày Thầy cùng anh em uống thứ rượu mới trong Nước của Cha Thầy” (Ga 26:26-29).
Lm. Antôn Nguyễn Ngọc Dũng, SDB
