“Có những người gieo mầm cả đời trong thinh lặng, để rồi khu vườn của Chúa nở hoa mà chẳng ai biết tên người làm vườn.”

Có những ơn gọi không nảy mầm từ những tiếng vang, cũng chẳng được tưới tắm bằng ánh hào quang rực rỡ. Chúng chọn cho mình cách lớn lên thật lặng lẽ, như một mầm cây bé nhỏ nép mình trong góc vườn kín gió. Ở nơi ấy, mỗi giọt nước, mỗi tia nắng, từng hơi thở của đất trời đều đến từ những bàn tay kiên nhẫn, những bàn tay âm thầm đến mức đôi khi chính mầm cây cũng quên mất sự hiện diện của chúng. Nhìn lại hành trình của mình, tôi nhận ra ơn gọi dâng hiến của tôi cũng bắt đầu từ một sự “vô danh” đầy ân sủng như thế.
Ngày đầu bước chân vào nhà Dòng, tôi chỉ là một người trẻ mang theo hành trang đầy ắp mộng tưởng, nhưng cũng không thiếu những chênh vênh. Thú thật, lúc ấy tôi chưa hiểu hết hai chữ dâng hiến sâu nặng thế nào, cũng chẳng rõ con đường hun hút này sẽ dẫn mình về đâu. Nhưng chính trong lớp sương mù của sự mơ hồ ấy, tôi bắt đầu chạm gặp những con người mà sau này tôi vẫn âm thầm gọi bằng một danh xưng đầy kính trọng: Những người làm vườn của Chúa.
Họ là các Chị trong Cộng đoàn, những người đã đi trước tôi cả một đời dâng hiến. Các Chị không giảng giải nhiều về sự hy sinh, cũng chẳng bao giờ gọi những việc mình làm là điều đặc biệt. Thế nhưng chính trong nhịp sống bình dị tưởng chừng như đơn điệu ấy, tôi lại nhận ra vẻ đẹp rực rỡ của một cuộc đời đã được mài nhẵn để thuộc trọn về Thiên Chúa. Tôi luôn tạ ơn Chúa vì những điều nhỏ bé mà Ngài cho tôi nhìn thấy mỗi ngày: là bước chân thật khẽ khi các Chị đi vào nhà nguyện, như thể đang nâng niu sự thinh lặng sợ nó vỡ tan; là cái cúi đầu rất sâu trước Nhà Tạm, gói trọn một niềm tôn kính không lời; hay nụ cười hiền hậu khi ngang qua tượng Đức Mẹ, một nụ cười không dành cho người lạ, mà là lời chào thân quen giữa hai người đã thấu hiểu nhau qua bao mùa nắng sớm mưa chiều. Những điều ấy không ai dạy tôi. Chúng chỉ lặng lẽ thẩm thấu vào tâm hồn, như những hạt giống rơi xuống đất trong một đêm gió nhẹ khẽ lay qua khung cửa nhỏ.
Tôi vẫn nhớ những buổi sáng rất sớm. Khi dãy hành lang nhà Thanh tuyển còn vương mùi sương lạnh và bóng tối vẫn phủ lên vạn vật, ánh đèn trong nhà nguyện đã sáng. Và Chị đã ở đó từ lúc nào, quỳ lặng lẽ trong bộ tu phục xám xanh, sắc màu của khiêm hạ và tận hiến. Sự thinh lặng của Chị giống như một dòng nước ngầm chảy miết trong lòng đất: âm thầm nhưng bền bỉ, nuôi dưỡng cả khu vườn mà chẳng mấy ai nhìn thấy. Khi ấy tôi hiểu ra rằng: Đời dâng hiến không phải là ngọn lửa bùng lên rực rỡ trong một khoảnh khắc rồi lụi tàn. Nó giống như một đốm lửa nhỏ được gìn giữ qua trăm ngàn cơn gió của thời gian dẫu lặng lẽ, nhưng không bao giờ tắt.
Đôi khi lòng tôi chùng lại khi nhận ra dấu vết của năm tháng trên dáng hình các Chị. Một mái tóc đã chuyển màu mây trắng. Một chiếc lúp đã sờn vải. Chiếc áo dòng phai nhạt sau bao mùa mưa nắng. Và đôi bàn tay… những bàn tay khô gầy, run run vì bao năm tháng phục vụ không ngơi nghỉ. Thời gian đi qua để lại những dấu vết không thể xóa nhòa. Nhưng nơi các Chị luôn tỏa ra một thứ ánh sáng dịu dàng. Đó không phải là ánh sáng của tuổi xuân, mà là ánh sáng của một tâm hồn đã được gạn đục khơi trong qua những hy sinh âm thầm. Các Chị giống như những chiếc lá đã bền bỉ bám trụ trên cành qua bao mùa bão nổi. Giờ đây nơi các Chị chỉ còn lại một dáng vẻ bình an sâu lắng, thứ bình an đến từ một trái tim đã thuộc trọn về Chúa.
Trong Cộng đoàn, các Chị là những người làm vườn không tên. Các Chị lặng lẽ chăm sóc khu vườn ơn gọi của những người trẻ như tôi bằng những “giọt nước” rất nhỏ: một lời nhắc nhở chân thành khi tôi lạc bước, một ánh nhìn bao dung khi tôi vấp ngã, hay đơn giản chỉ là một bữa cơm ấm nóng, một sự sắp xếp chu đáo cho giờ tĩnh tâm. Đôi khi tôi tự hỏi: Đã có bao nhiêu đêm các Chị thao thức vì ơn gọi của người khác? Bao nhiêu lời cầu nguyện đã được dâng lên trong thinh lặng, có khi trong cả nước mắt, mà tôi chẳng hề hay biết? Tôi sẽ không bao giờ đếm được. Nhưng tôi biết chắc một điều: mỗi cánh hoa nở rộ trong khu vườn ơn gọi này đều mang bóng dáng tận tụy của người làm vườn. Có những bàn tay cả đời chỉ quen cần mẫn vui xới cho mảnh đất nghèo, nhưng chính nhờ những bàn tay ấy mà biết bao tâm hồn được ngẩng lên nhìn về trời. Mỗi ngày được sống và ở lại trong khuôn viên nhà Chúa, tôi luôn muốn dâng lên Ngài một lời tạ ơn rất thật lòng: “Lạy Chúa, con cảm ơn Ngài vì những người làm vườn của Chúa.” Chính họ đã cày xới mảnh đất tâm hồn khô cằn của tôi, nhẫn nại tưới tắm khi tôi còn là một mầm cây yếu ớt. Và nếu một ngày nào đó đời tôi có thể nở hoa, tôi biết rằng trong mỗi sắc hương ấy đều có bóng dáng và hơi ấm của các Chị.
Hành trình phía trước chắc chắn vẫn còn dài, còn nhiều khúc quanh và cả những đoạn đường gập ghềnh. Nhưng giữa muôn vàn ngã rẽ của cuộc đời, tôi chọn dừng lại ở một điểm tựa giản dị: lòng biết ơn. Tôi hiểu rằng mình không tự nhiên lớn lên mà còn được nuôi dưỡng bằng sự kiên tâm và những lời cầu nguyện chân tình của những tâm hồn cao cả ấy. Ước mong rằng: ơn Chúa mỗi ngày tuôn đổ xuống trên đời tôi như giọt sương lặng lẽ, thấm đượm trong trái tim và ấp ủ lòng trí tôi. Vì rồi sẽ đến một ngày, những ánh sáng rực rỡ của thế gian cũng tắt dần như hoàng hôn cuối ngày, và cho dẫu tôi có loay hoay giữa biết bao nhịp sống của cuộc đời, xin cho tôi vẫn chọn ở lại trong khu vườn ân sủng của Chúa. Để rồi một ngày kia, hoa vẫn nở, đất vẫn thơm, và khu vườn của Ngài vẫn xanh qua năm tháng. Còn người làm vườn thì ở lại phía sau, âm thầm nhưng thật diễm phúc.
Anê Thảo Uyên
Thanh Tuyển HD. Mến Thánh Giá Huế
