(Xh 19:2-6a; Rm 5:6-11; Mt 9:36-10:8)
Trong bài đọc 1 hôm nay, chúng ta nghe việc Thiên Chúa tuyển chọn Israel làm dân riêng của mình. Việc tuyển chọn này được thực hiện qua một giao ước hay còn gọi là một bản khế ước giữa Thiên Chúa và Israel: “Các ngươi thấy Ta đã xử với Ai cập thế nào, và đã mang các ngươi như trên cánh chim bằng, mà đem đến với Ta. Vậy giờ đây, nếu các ngươi thực sự nghe tiếng Ta và giữ giao ước của Ta, thì giữa hết mọi dân, các ngươi sẽ là sở hữu riêng của Ta. Vì toàn cõi đất đều là của Ta. Ta sẽ coi các ngươi là một vương quốc tư tế, một dân thánh” (Xh 19:4-6a). Trong những lời này chúng ta nhận ra những yếu tố sau: (1) nhắc lại những gì Thiên Chúa đã làm – đưa Israel thoát khỏi ách nô lệ Ai Cập và cưu mang, chăm sóc họ trong hành trình vào đất hứa; (2) điều kiện dân phải thực hiện để thuộc trọn về Thiên Chúa – lắng nghe và bước đi trong đường lối của Ngài; (3) thái độ của Thiên Chúa dành cho họ – xem Israel là dân thánh riêng của Ngài, “một vương quốc tư tế.” Ba yếu tố này mỗi người chúng ta cũng cảm nghiệm được trong mối tương quan giữa với Thiên Chúa. Thiên Chúa đã làm cho chúng ta thật nhiều điều kỳ diệu. Ngài chăm sóc, nuôi dưỡng chúng ta mỗi ngày. Đối với Ngài, chúng ta là “con ngươi mắt Chúa.” Cũng như dân Israel, Thiên Chúa cũng chỉ muốn chúng ta lắng nghe và bước đi trong đường lối của Ngài. Chúng ta đã và đang sống điều này như thế nào?
Về phần mình, Thánh Phaolô trong bài đọc 2 cho chúng thấy đâu là đỉnh cao của tình yêu, đó là việc sẵn sàng chết cho người lầm lỗi. Đức Kitô đã làm điều này khi chết cho chúng ta: “Hầu như không ai chết vì người công chính, hoạ may có ai dám chết vì một người lương thiện chăng. Thế mà Đức Kitô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi; đó là bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta” (Rom 5:7-8). Những lời này nhắc nhở chúng ta về thái độ sống với Thiên Chúa và anh chị em mình. Nhiều khi chúng ta thấy tự hào là mình làm điều này điều kia “cho Chúa” để rồi chúng ta không còn nhìn thấy mình cần đến Chúa. Khi một người tự hào về những gì mình làm, thì sẽ bắt đầu đặt mình làm trung tâm và dần loại Chúa ra khỏi trung tâm đời mình. Khi rơi vào tình trạng như thế thì người đó không còn xem Chúa là niềm tự hào của mình như Thánh Phaolô nói đến: “Thật vậy, nếu ngay khi chúng ta còn thù nghịch với Thiên Chúa, Thiên Chúa đã để cho Con của Người phải chết mà cho chúng ta được hoà giải với Người, phương chi bây giờ chúng ta đã được hoà giải rồi, hẳn chúng ta sẽ được cứu nhờ sự sống của Người Con ấy. Nhưng không phải chỉ có thế, chúng ta còn có Thiên Chúa là niềm tự hào, nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, Đấng nay đã hoà giải chúng ta với Thiên Chúa” (Rom 5:10-11). Đâu là niềm tự hào của tôi? Phải chăng là Thiên Chúa?
Bài Tin Mừng hôm nay trình bày về lòng thương của Chúa Giêsu (x. Mt 9:35-38) và lời mời gọi các môn đệ chia sẻ với Ngài trong tình thương đó (Mt 10:1,6-8). Bốn câu đầu tiên của bài Mừng hôm nay (câu 35-38) đóng vai trò chuyển tiếp. Nó khép lại phần từ chương 4 câu 23 đến chương 9 câu 34. Trong phần này, Chúa Giêsu được trình bày như là Đấng Messia trong lời nói và hạnh động. Phần này cũng mở ra cánh cửa cho sứ mệnh của các môn đệ và lời dạy về sứ mệnh trong chương 10. Chúng ta chỉ biết và hiểu được sứ mệnh của các môn đệ khi chúng ta nhìn chúng trong tương quan với sứ mệnh của Chúa Giêsu. Thánh Mátthêu trình bày sứ vụ của Chúa Giêsu cách ngắn gọn như sau: “Khi ấy, Đức Giêsu đi khắp các thành thị, làng mạc, giảng dạy trong các hội đường, rao giảng Tin Mừng Nước Trời và chữa hết các bệnh hoạn tật nguyền” (Mt 9:35). Qua những lời này, Thánh Mátthêu chỉ cho chúng ta thấy Chúa Giêsu là Đấng Messia trong lời nói và hành động. Điều đáng để chúng ta suy gẫm là động lực thúc đẩy sứ vụ của Chúa Giêsu là lòng thương dành cho “đám đông” [dành cho mọi người không loại trừ ai]: “Đức Giêsu thấy đám đông thì chạnh lòng thương, vì họ lầm than vất vưởng, như bầy chiên không người chăn dắt” (Mt 9:36). Tình thương là động lực thúc đẩy chủ chiên cảm nghiệm được những nhu cầu của đàn chiên. Sự dấn thân của chủ chiên được bắt đầu với cảm nghiệm về những nhu cầu cần một người lãnh đạo thiêng liêng của dân chúng. Trong đời sống thường ngày, chúng ta cũng cảm nghiệm được nhu cầu của anh chị em mình. Những nhu cầu đó có làm chúng ta “chạnh lòng thương” để bắt đầu dấn thân làm một điều gì đó để giúp anh chị em mình trong những nhu cầu của họ không? Điều đáng buồn là nhiều khi chúng ta trở nên vô cảm hay chai đá trước những nhu cầu của anh chị em mình [nhất là những người mình không thích]. Chúng ta cần xin Chúa ban cho chúng ta con tim nhạy bén và tràn đầy tình thương của Ngài, để chúng ta có thể rung cảm trước hoàn cảnh đau khổ của anh chị em mình.
Thật vậy, sứ vụ của Chúa Giêsu bắt đầu với việc chạnh lòng thương. Thánh Mátthêu thuật lại như sau: “Đức Giêsu thấy đám đông thì chạnh lòng thương, vì họ lầm than vất vưởng, như bầy chiên không người chăn dắt. Bấy giờ, Người nói với môn đệ rằng: ‘Lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt lại ít. Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về’”
(Mt 9:36-38). Chính lòng thương này là động lực
để Ngài nói các môn đệ xin chủ mùa gặt sai thợ gặt đến trong cánh đồng của Ngài. Theo các học giả Kinh Thánh, tình yêu và lòng thương xót của Chúa Giêsu mở rộng đến tất cả những người Ngài gặp gỡ. Điều này mang tính xã hội. Nguồn gốc sự dấn thân rao giảng và chữa lành của chúa Giêsu chính là cảm nghiệm đến từ nhu cầu cần có người lãnh đạo thiêng liêng của dân chúng. Điều này được trình bày qua hình ảnh người chăn chiên. Trong Kinh Thánh đây là hình ảnh của những người lãnh đạo chính trị và tôn giáo. Cũng chính trong những lời trên, chúng ta thấy Chúa Giêsu biến “vấn đề thiếu thợ gặt” thành cơ hội để mời gọi các môn đệ. Việc thiếu thợ gặt là vấn đề muôn thuở trong đời sống sứ vụ. Chúng ta thấy Chúa Giêsu đã biến “vấn đề” thành “cơ hội.” Trong những lời trên, Chúa Giêsu đã chỉ rõ rằng: Chỉ những cộng đoàn nào nuôi dưỡng đức tin của mình qua đời sống cầu nguyện liên lỉ thì mới xứng đáng đón nhận và tạo ra nhiều thợ gặt trong cánh đồng của Chúa. Nói cách khác, nơi nào có cầu nguyện liên lỉ, nơi đó sẽ có những người sẵn sàng dấn thân vào cánh đồng của Chúa; những ai sống đời cầu nguyện thâm sâu, mới có thể trở thành những thợ gặt lành nghề trong cánh đồng của Chúa. Đây chính là điều chúng ta thấy trong phần tiếp theo.
Chúa Giêsu mời gọi các môn đệ chia sẻ trong sứ vụ của mình: “Rồi Đức Giêsu gọi mười hai môn đệ lại, để ban cho các ông quyền trên các thần ô uế, để các ông trừ chúng và chữa hết các bệnh hoạn tật nguyền” (Mt 10:1). Trong những lời này, chúng ta thấy Chúa Giêsu ban cho các môn đệ quyền năng của chính Ngài. Nói cách khác, quyền năng trong sứ vụ của các môn đệ đến từ Chúa Giêsu chứ không phải đến từ khả năng của họ. Chúa Giêsu cũng chỉ rõ cho các môn đệ (1) đối tượng họ sẽ đến là ai: “Hãy đến với các con chiên lạc nhà Israel” (Mt 10:6), (2) họ phải rao giảng gì: “Dọc đường hãy rao giảng rằng: Nước Trời đã đến gần” (Mt 10:7), (3) họ phải làm gì khi rao giảng: “Anh em hãy chữa lành người đau yếu, làm cho kẻ chết sống lại, cho người phong hủi được sạch bệnh, và khử trừ ma quỷ” (Mt 10:9), và họ phải có thái độ như thế nào: “Anh em đã được cho không, thì cũng phải cho không như vậy” (Mt 10:8). Những chi tiết này nhắc nhở chúng ta về việc mình phải lệ thuộc vào Chúa Giêsu trong mọi việc. Chỉ khi chúng ta hoàn toàn lệ thuộc vào Ngài, hay đúng hơn để Ngài làm việc trong chúng ta, thì những việc chúng ta làm mới mang đúng nghĩa là tiếp tục sứ mệnh của Chúa Giêsu.
Lm. Antôn Nguyễn Ngọc Dũng, SDB
