
(Cv 12:24 – 13:5a; Ga 12:44-50)
Hành trình rao giảng của người môn đệ là hành trình không do mình vạch ra, nhưng là đi theo sự hướng dẫn của Thiên Chúa. Chỉ khi người môn đệ thực hiện điều này, thì “lời Thiên Chúa lan tràn và phát triển” (Cv 12:24). Người môn đệ chỉ nhận ra điều Thiên Chúa muốn và hành trình mình phải đi chỉ khi chìm sâu trong cầu nguyện: “‘Một hôm, đang khi họ làm việc thờ phượng Chúa và ăn chay, thì Thánh Thần phán bảo: “Hãy dành riêng Banaba và Saolô cho Ta, để lo công việc Ta đã kêu gọi hai người ấy làm.’ Bấy giờ họ ăn chay cầu nguyện, rồi đặt tay trên hai ông và tiễn đi” (Cv 13:2-3). Trong giây phút cầu nguyện, người môn đệ hoàn toàn để cho mình tan biến trong mầu nhiệm của Thiên Chúa, và như thế mới cảm nghiệm được cách sâu xa tình yêu vô điều kiện dành cho con người. Trong cầu nguyện, người môn đệ không tìm những gì thuộc về mình, nhưng tìm những gì thuộc về Thiên Chúa. Trong cầu nguyện người môn đệ nhận ra sự yếu kém của mình và sức mạnh vô biên của Thiên Chúa sẽ hoạt động trong mình. Trong cầu nguyện chân thành, người môn đệ biết nói tiếng ‘xin vâng’ theo thánh ý Chúa Cha, như Chúa Giêsu đã thốt lên trong vườn cây dầu. Trong cầu nguyện người môn đệ sẽ dần trở nên đồng hình đồng dạng với Đấng mình làm chứng.
Bài Tin Mừng hôm nay là phấn kết luận của chương 2 và của phần nói về việc những người không tin sẽ bị kết án. Theo các học giả Kinh Thánh, trình thuật này được thêm vào phần kết luận của sứ vụ công khai của Chúa Giêsu. Nội dung của trình thuật rất gần với các phần trong chương 3 (câu 16-19). Trình thuật này là một khẳng định về việc Chúa Giêsu là Đấng được Thiên Chúa sai đến: Từ chối Chúa Giêsu là từ chối Chúa Cha, Đấng đã sai Ngài, là chống đối mệnh lệnh của Chúa Cha, là sẽ bị xét xử. Chúng ta thấy điều này ngay trong những lời đầu tiên của trình thuật: “Khi ấy, Đức Giêsu lớn tiếng nói rằng: ‘Ai tin vào tôi, thì không phải là tin vào tôi, nhưng là tin vào Đấng đã sai tôi; ai thấy tôi là thấy Đấng đã sai tôi’” (Ga 12:44-45). Những lời này cho thấy, Chúa Giêsu đến làm mọi sự nhân danh Chúa Cha. Chúng ta có thể nói Ngài là một ‘tấm gương trong suốt,’ qua Ngài chúng ta nhìn thấy Chúa Cha. Chúng ta là những người tin vào Chúa Giêsu và như thế là tin vào Chúa Cha, Đấng đã sai Chúa Giêsu. Điều này ai trong chúng ta cũng có thể tự hào vỗ ngực nói đến. Tuy nhiên, điều làm chúng ta xét lại mình là việc Chúa Giêsu nói: “Ai thấy tôi là thấy Đấng đã sai tôi.” Chúng ta có dám khẳng định: Ai thấy tôi là thấy Đấng tôi đã tin vì tôi là ‘hiện thân’ [hay ‘bản sao’ trung thực] của Ngài không? Chúng ta phải sống thế nào, để qua cuộc sống chúng ta, nhất là lời ăn tiếng nói và hành động, những người khác nhìn thấy Chúa Giêsu đang sống trong chúng ta.
Chúa Giêsu tiếp tục khẳng định, Ngài được sai đến thế gian để là ánh sáng cho thế gian: “Tôi là ánh sáng, tôi đã đến thế gian, để bất cứ ai tin vào tôi, thì không ở lại trong bóng tối” (Ga 12:46). Ở đây, đề tài về ánh sáng và bóng tối được sử dụng. Chính niềm tin vào Chúa Giêsu là Đấng được sai đến thế gian là tiêu chuẩn phân biệt ai ở trong ánh sáng và ai trong bóng tối. Những người sống trong bóng tối là những người sẽ bị xét xử vì đã không nghe lời Chúa Giêsu: “Ai nghe những lời tôi nói mà không tuân giữ, thì không phải chính tôi xét xử người ấy, vì tôi đến không phải để xét xử thế gian, nhưng để cứu thế gian. Ai từ chối tôi và không đón nhận lời tôi, thì có quan toà xét xử người ấy: chính lời tôi đã nói sẽ xét xử người ấy trong ngày sau hết. Thật vậy, không phải tôi tự mình nói ra, nhưng là chính Chúa Cha, Đấng đã sai tôi, truyền lệnh cho tôi phải nói gì, tuyên bố gì” (Ga 10:47-49). Chúa Giêsu đã liên kết đề tài nghe – tuân giữ – xét xử – cứu độ lại với nhau trong những lời trên. Nhưng điều làm cho những hành động trên xảy ra là việc Ngài được sai đến thế gian bởi Chúa Cha để nói những điều Chúa Cha đã truyền lệnh cho Ngài. Như thế, hành vi nghe – tuân giữ – xét xử – cứu độ không chỉ dừng lại ở Chúa Giêsu, nhưng hướng những người tin đến Chúa Cha, Đấng nói với họ, muốn họ tuân giữ lời Ngài, Đấng sẽ xét xử và ban cho họ sự sống đời đời. Một chi tiết đáng để chúng ta suy gẫm là việc Chúa Giêsu chỉ nói những gì Chúa Cha đã truyền lệnh. Ngài không tự mình nói gì. Điều này cho thấy sự hiệp nhất của Ngài với Chúa Cha: “Cha tôi và Tôi là một.” Sự “nên một giữa Chúa Cha và Chúa Giêsu đã làm cho Ngài thốt lên: “Và tôi biết: mệnh lệnh của Người là sự sống đời đời. Vậy, những gì tôi nói, thì tôi nói đúng như Chúa Cha đã nói với tôi” (Ga 12:50). Những lời này có thể là một ám chỉ đến những lời được trình bày trong sách Đệ Nhị Luật (18:18-19 và 31:19,26). Những lời trong sách Đệ Nhị Luật nói về những người từ chối không lắng nghe các ngôn sứ được Thiên Chúa sai đến sẽ bị kết án. Điều này nhắc nhở chúng ta rằng, chỉ những người luôn kết hợp với Thiên Chúa, với Chúa Giêsu mới có thể nghe, nói và tuân giữ lời của Thiên Chúa. Họ sẽ không bị xét xử và được ân thưởng ơn cứu độ.
Lm. Antôn Nguyễn Ngọc Dũng, SDB
